Giới thiệu khai quát về sứ mệnh cao cả của nhà văn chân chính. Từ bao đời này văn học xuất hiện đã đem đến sứ mệnh cao cả là nâng đỡ, xoa dịu những nỗi đau của con người trong cuộc sống còn bề bộn, nhọc nhằn những lo âu. Làm sao ta có thể không thổn thức
Tiềm năng phát triển du lịch. Nhìn chung khí hậu Cao Bằng mát mẻ quanh năm lại có nhiều núi cao, phong cảnh thiên nhiên hữu tình rất thích hợp cho nghỉ ngơi, du lịch. Lễ hội truyền thống của tỉnh Cao Bằng là nét đặc trưng của các dân tộc sinh sống trong vùng đặc biệt là
Giới Thiệu Về Du Lịch Đà Lạt Ấn Tượng – Bài 4. Thuyết Minh Về Đà Lạt Hay Nhất – Bài 5. Thuyết Minh Về Đà Lạt Ngắn Gọn – Bài 6. Thuyết Minh Về Thành Phố Đà Lạt Đặc Sắc – Bài 7. Thuyết Minh Về Đà Lạt Hướng Dẫn Viên Chi Tiết – Bài 8. Thuyết Minh Về Danh Lam
6 6.Từ A Đến Z Cách Giới Thiệu Công Việc Trôi Chảy Và Tự Tin. 7 7.Hướng dẫn mẫu viết về công việc tương lai bằng tiếng Anh. 8 8.Mẫu bài viết về công việc tương lai bằng tiếng Anh – Step Up English. 9 9.Viết đoạn văn bằng tiếng Anh về công việc nhà đạt điểm cao. 10 10
Những bài văn mẫu hay lớp 10. Văn mẫu lớp 10: Thuyết minh về một lễ hội truyền thống ở tỉnh Cao Bằng gồm các bài văn mẫu hay cho các em học sinh tham khảo, củng cố kỹ năng cần thiết cho bài kiểm tra viết sắp tới đây của mình. Mời các em học sinh cùng tham khảo chi
SuWkm6V. Những bài văn mẫu lớp 9Văn mẫu lớp 9 Thuyết minh về địa danh Pác Bó - Cao Bằng dưới đây được tổng hợp và sưu tầm gồm các bài văn mẫu hay cho các em học sinh tham khảo, củng cố kỹ năng cần thiết cho bài kiểm tra viết sắp tới đây của mình. Mời các em học sinh cùng tham ý chi tiết thuyết minh về địa danh Pác Bó1. Mở bàiGiới thiệu khái quát về địa danh Pác Bó - Cao Bằng Địa danh Pác Bó - Cao Bằng được Nhà nước công nhận là Khu di tích ngày 21 - 1 1975, sau này đến ngày 10 - 5 - 2012 đây được công nhận là Khu di tích Quốc gia đặc biệt Pác Bó - Cao Bằng2. Thân bàiVị trí địa lýThuộc xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao BằngSát với biên giới với Trung QuốcMốc km đầu tiên của con đường Hồ Chí MinhCảnh quan thiên nhiênCụm di tích khu vực đầu nguồn Hang Pác Bó, suối Lê Nin, núi Các MácCác điểm lưu niệm Nhà tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí MinhCụm di tích Kim Đồng mộ Kim Đồng, tượng đài Kim ĐồngCụm di tích Khuổi NặmÝ nghĩa lịch sử - văn hóa3. Kết bài Cảm nhận về địa danh Pác Bó - Cao Bằng Ngày nay, địa danh Pác Bó - Cao Bằng là một tài sản lịch sử, văn hóa vô giá đối với đồng bào các dân tộc tỉnh Cao Bằng nói riêng và của cả nước nói chungThuyết minh về địa danh Pác BóĐịa danh Pác Bó - Cao Bằng được Nhà nước công nhận là Khu di tích ngày 21 - 1 1975, sau này đến ngày 10 - 5 - 2012,đây được công nhận là Khu di tích Quốc gia đặc biệt. Nơi đây đã xuất hiện trong một số tác phẩm văn chương của Bác Hồ như bài thơ "Tức cảnh Pác Bó", bởi đó chính là nơi hoạt động cách mạng đầu tiên của Bác, là cơ sở cách mạng đầu tiên và chiến khu đầu tiên của lực lượng kháng tích lịch sử Pác Bó - Cao Bằng nằm trên địa bàn thuộc xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng - một tỉnh thuộc vùng núi phía Bắc nước ta, từ thành phố Cao Bằng phải đi quãng đường khoảng 50km mới tới được hang, nơi đây sát với biên giới với Trung Quốc, cũng là mốc km đầu tiên của con đường huyết mạch Hồ Chí Minh. Khu di tích bao gồm nhiều địa điểm gắn với thời kỳ cách mạng của Việt Nam và cuộc đời hoạt động của Hồ Chí Minh trong giai đoạn 1941 - 1945. Nổi bật nhất trong khu di tích chính là hang Pác Bó, nơi Bác đã sống và làm việc, mỗi khi du khách lên tham quan khu di tích đều không thể bỏ qua địa điểm này. Đây thực chất là một hang động tự nhiên, được hình thành qua quá trình xói mòn tự nhiên lâu năm của các dòng chảy ngầm trên bề mặt núi đá tiếng Tày, "Pác Bó" có nghĩa là "nơi đầu nguồn", với vị trí đầu nguồn nên hang này đã được đặt tên là "Pác Bó". Khu di tích nằm giữa những cánh rừng già của núi rừng đại ngàn Việt Bắc, xung quanh có những bản làng của người dân tộc thiểu số, Bác Hồ đã chọn lựa nơi đây làm căn cứ hoạt động cách mạng đầu tiên của mình sau khi trở về nước. Hang rộng khoảng 80m2, cửa hang chỉ đủ một người đi qua, hiện trong hang vẫn còn di tích bộ bàn ghế đá mà Bác đã dùng ngồi làm việc, ngoài ra, Bác còn làm việc tại một số hang như Lũng Lạn, Ngườm Vài. Bác Hồ chính là người đặt tên cho con suối trước cửa hang là suối Lê Nin và ngọn núi có hang Pác Bó là núi Các Mác. Trong khoảng thời gian sống và làm việc tại hang, Bác thường ra sông câu cá, đến nay cảnh quan vẫn còn tương đối nguyên vẹn. Nhà tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh được xây dựng theo kiến trúc nhà sàn dân tộc, nằm trên dãy núi Linh Sơn, ngoài ra, còn có các công trình nhà trưng bày lưu niệm, nhà tiếp đón khách tham quan và du di tích Kim Đồng bao gồm mộ Kim Đồng nằm dưới chân núi Tèo Lài, bên cạnh là mộ mẹ của Kim Đồng, phía sau có tượng đài Kim Đồng và bức tượng thể hiện 14 mùa xuân của Kim Đồng. Cụm di tích Khuổi Nặm có lán Khuổi Nặm là nơi Bác ở lâu nhất, nơi đây nằm ngay cửa rừng, được che kín từ ngoài nhìn không phát hiện ra. Khu di tích Pác Bó - Cao Bằng không chỉ có ý nghĩa du lịch tham quan mà chính những giá trị lịch sử đã mang lại giá trị tham quan cho địa danh này. Đến với khu di tích, mọi người được tìm hiểu về cuộc đời và hoạt động của Bác Hồ những năm đầu cách mạng, cảm nhận được khí thế kháng chiến, tinh thần yêu nước của quân và dân ta. Chính từ nơi đây đã khởi nguồn cho Bác con đường cách mạng lý tưởng và đúng đắn, khơi dựng lên phong trào cách mạng đầy lớn mạnh và từng bước đánh đuổi thực dân Pháp. Sự tồn tại của khu di tích là minh chứng rõ ràng và cụ thể nhất cho những năm tháng gian khổ, khẳng định truyền thống cách mạng của dân tộc nay, địa danh Pác Bó - Cao Bằng là một tài sản lịch sử, văn hóa vô giá đối với đồng bào các dân tộc tỉnh Cao Bằng nói riêng và của cả nước nói chung. Gìn giữ và bảo tồn khu di tích chính là bảo tồn những giá trị lịch sử của dân tộc, phát huy truyền thống yêu nước cho thế hệ con cháu mai đây VnDoc đã tổng hợp các bài văn mẫu Thuyết minh về địa danh Pác Bó - Cao Bằng cho các bạn tham khảo ý tưởng khi viết bài. Ngoài ra các bạn có thể xem thêm chuyên mục Soạn văn 9 mà VnDoc đã chuẩn bị để học tốt hơn môn Ngữ văn lớp 9 và biết cách soạn bài lớp 9 các bài trong sách Văn tập 1 và tập 2. Đồng thời các dạng đề thi học kì 1 lớp 9, đề thi học kì 2 lớp 9 mới nhất cũng sẽ được chúng tôi cập nhật. Mời các em học sinh, các thầy cô cùng các bậc phụ huynh tham khảo.
Bài văn mẫu lớp 9Văn mẫu lớp 9 Thuyết minh giới thiệu về nhà văn Nam Cao và tác phẩm Lão Hạc gồm dàn ý và các bài văn mẫu hay cho các em học sinh tham khảo, củng cố kỹ năng cần thiết cho bài kiểm tra viết sắp tới đây của mình. Mời các em học sinh cùng tham minh về nhà văn Nam Cao và tác phẩm Lão HạcI. Dàn ý thuyết minh truyện ngắn Lão HạcII. Thuyết minh về nhà văn Nam Cao và tác phẩm Lão HạcThuyết minh truyện ngắn Lão Hạc mẫu 1Giới thiệu về nhà văn Nam Cao và tác phẩm Lão Hạc mẫu 2Giới thiệu về nhà văn Nam Cao và tác phẩm Lão Hạc mẫu 3III. Khái quát chung về tác giả Nam CaoIV. Tóm tắt truyện ngắn Lão HạcTóm tắt văn bản Lão Hạc mẫu 1Tóm tắt truyện ngắn Lão Hạc mẫu 2I. Dàn ý thuyết minh truyện ngắn Lão Hạc1. Mở bàiGiới thiệu về tác giả Nam Cao và truyện ngắn lão Thân bàiGiới thiệu xuất xứ của truyện Năm sáng tác, trích từ đâu?Tóm tắt nội dung câu minh về nội dung đặc biệt chú trọng giới thiệu nhân vật lão Hạc.Thuyết minh về những đặc sắc nghệ Kết bàiGiá trị của truyện ngắn lão Hạc trong thi đàn văn học Việt Nam, trong những sáng tác của Nam Cao và trong suy nghĩ, cảm nhận của người Thuyết minh về nhà văn Nam Cao và tác phẩm Lão HạcThuyết minh truyện ngắn Lão Hạc mẫu 1Nam Cao được biết đến như một nhà văn hiện thực xuất sắc giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám năm 1945. Những tác phẩm của ông phản ánh vô cùng chân thực, sinh động về cuộc sống lúc bấy giờ của con người. Nam Cao gắn liền tên tuổi của mình với những tác phẩm ghi dấu ấn đậm nét trong tâm hồn người đọc như Chí Phèo, Đời thừa, Sống mòn... Và không thể không nhắc đến lão Hạc, một trong những tác phẩm hay viết về đề tài người nông dân trước cách mạng tháng ngắn lão Hạc được đăng báo vào năm 1943, là nội dung một bài học trong chương trình Ngữ Văn 8. Truyện ngắn kể về câu chuyện một nhân vật có tên lão Hạc, có hoàn cảnh rất đáng thương Vợ lão mất sớm, lão phải sống một mình trong cảnh gà trống nuôi nhưng vì mưu sinh, vì cái đói nghèo bủa vây mà con trai cũng bỏ lão mà đi kiếm sống ở đồn điền cao su. Lão Hạc lại sống cuộc sống buồn tủi, cô đơn và chỉ biết làm bạn với cậu Vàng. Niềm vui duy nhất ấy của lão cũng không được trọn vẹn khi lão phải bán đi người bạn thân thiết nhất vì hoàn cảnh. Lão đau đớn, ân hận và vô cùng day dứt vì điều cố gắng dành dụm tiền bán mảnh vườn để dành cho con trai và lo chu toàn cho mình sau khi chết vì không muốn làm phiền, liên lụy đến mọi người xung quanh. Lão tìm đến cái chết như một sự giải thoát cho bản thân mình, cho số phận nghiệt ngã của mình. Cả cuộc đời lão Hạc là một chuỗi những bi kịch. Và đến cuối cùng, lão vẫn phải chịu bi kịch là cái chết đau thương, cay câu chuyện thấm đượm tinh thần nhân đạo, Nam Cao đã vô cùng thành công khi khắc họa chân dung nhân vật lão Hạc, một người nông dân giàu tình cảm. Điều này được thể hiện rõ qua sự gắn bó, đau xót, tiếc thương của lão khi phải bán đi cậu cạnh đó, lão còn là một người cha yêu thương con hết mực, luôn nghĩ cho con và dành dụm cho con. Lão cũng là người có lòng tự trọng. Dù sống trong hoàn cảnh thiếu thốn, khó khăn nhưng không có những suy nghĩ, việc làm trái với lương tâm và cũng không muốn ảnh hưởng, phiền hà đến bất cứ cạnh thành công về nội dung, truyện ngắn còn gây ấn tượng với người đọc bởi nghệ thuật tác giả sử dụng vô cùng đặc sắc. Đầu tiên phải kể đến nghệ thuật xây dựng và khắc họa nhân vật vô cùng tiêu biểu, đậm nét. Lấy hình ảnh một con người để nói đến một bộ phận kể của câu chuyện cũng vô cùng khách quan, tạo nên sự hấp dẫn của câu chuyện. Đó còn là nghệ thuật miêu tả chân dung đặc sắc qua những điểm nhấn chi tiết tạo nên giá trị của chi tiết nghệ thuật. Sự kết hợp giữa phương thức tự sự và trữ tình cũng tạo nên sự đa chiều của câu chuyện. Lúc là giọng văn tự sự mẫu mực, lúc lại khiến người đọc rưng rưng xúc động với những xúc cảm do tác giả thể ngắn lão Hạc xứng đáng là một tác phẩm hay, một tác phẩm đẹp cả về nội dung lẫn nghệ thuật. Đây xứng đáng là một tác phẩm xuất hiện trong tủ sách của mỗi người, bởi nó chứa đựng những giá trị vĩnh viễn, luôn đúng với thời gian. Lão Hạc cùng với nhà văn Nam Cao vẫn luôn in đậm trong tâm trí của người đọc mọi thế thiệu về nhà văn Nam Cao và tác phẩm Lão Hạc mẫu 2Nam Cao là một trong những nhà văn hiện thực xuất sắc giai đoạn 1930 – 1945, là một cây bút viết về người nông dân hết sức chân thực, có đóng góp nhiều cho sự thành công của dòng văn học hiện thực Việt Nam trước cách mạng tháng Tám. Nam Cao tên khai sinh là Trần Hữu Tri, sinh năm 1915, mất năm 1951, quê ở làng Đại Hoàng, phủ Lý Nhân, tỉnh Hà Nam. Nam Cao là cây bút luôn suy nghĩ, tìm tòi để “khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những cái gì chưa có”. Vì thế, đề tài của ông tuy không mới nhưng tác phẩm vẫn có những đặc sắc tâm lí. Tác phẩm của Nam Cao chủ yếu xoay quanh hai đề tài chính người nông dân và người trí thức tiểu tư sản nghèo, ở đề tài người trí thức tiểu tư sản có những tác phẩm Trăng sáng, đời thừa, mua nhà, nước mắt… và những truyện đáng chú ý khi ông viết về người nông dân như Lão Hạc, Chí Phèo, Một bữa no, Lang Rận… Có thể nói dù viết về trí thức nghèo hay về người nông dân cùng khổ thì Nam Cao vẫn luôn day dứt, đau đớn trước tình trạng con người bị xói mòn về nhân phẩm, thậm chí huỷ diệt cả nhân tính trong cái xã hội phi nhân đạo đương thời. Nam Cao là người có ý thức trách nhiệm nhất về ngòi bút của mình, suốt cuộc đời lao động văn học, nhà văn luôn suy nghĩ về sống và nền văn xuôi hiện đại nước ta, Nam Cao là nhà văn có tài năng xuất sắc và một phong cách độc đáo. Ngòi bút của Nam Cao vừa tỉnh táo, sắc lạnh, vừa nặng trĩu suy nghĩ và đằm thắm yêu thương. Văn Nam Cao hết sức chân thực, ông coi sự thực là trên hết, không gì ngăn được nhà văn đến với sự thực, vừa thấm đượm ý vị triết lí và trữ tình. Ông có sở trường diễn tả, phân tích tâm lí con người. Ngôn ngữ trong tác phẩm của ông sống động, uyển chuyển, tinh tế, rất gần với lời ăn tiếng nói của quần chúng. Với một tài năng lớn và giàu sức sáng tạo, Nam Cao đã góp phần quan trọng vào việc cách tân nền văn xuôi Việt Nam theo hướng hiện đại phẩm Nam Cao để lại chủ yếu là truyện ngắn, trong số những truyện ngắn viết về người nông dân, thì “Lão Hạc” là một truyện ngắn xuất sắc và tiêu ngắn “Lão Hạc” được đăng báo lần đầu năm 1943, truyện kể về nhân vật chính - lão Hạc, một lão nông dân nghèo khổ, có phẩm chất trong sạch, vợ lão Hạc mất sớm, để lại lão và cậu con trai, trong nhà tài sản duy nhất của hai cha con lão là một mảnh vườn và “cậu vàng” – con chó do con trai lão mua. Do không đủ tiền cưới vợ, con trai lão chán nản mà làm đơn xin đi mộ phu đồn điền cao su, để lão ở nhà một mình với cậu vàng. Lão Hạc hết sức thương con, lão chăm vườn, làm ăn dành dụm để khi con trai lão về thì cưới vợ cho nó. Thế nhưng, sau một trận ốm nặng, bao nhiêu tiền dành dụm cũng hết, sức khoẻ lão ngày một yếu đi, vườn không có gì để bán, lão Hạc trở nên đói kém hơn, phải lo từng bữa ăn. Lão ăn năn day dứt khi quyết định bán cậu vàng, người bạn thân thiết của lão. Lão gửi số tiền và mảnh vườn cho ông giáo và xin bả chó của Binh Tư để kết thúc cuộc sống túng quẫn của mình. Lão chết một cách đau đớn, nhưng cái chết làm sáng ngời phẩm chất trong sạch của lão qua số phận và cái chết của lão Hạc, Nam Cao đã thể hiện một thái độ trân trọng và cái nhìn nhân đạo đối với lão Hạc nói riêng và người nông dân nói chung, những con người nghèo khổ nhưng sống trong sạch, thà chết chứ không chịu mang tiếng nhục, làm những điều trái với lương tâm cao cả của mình. Nam Cao cũng đã nêu lên một triết lí nhân sinh rằng con người chỉ xứng đáng với danh nghĩa con người khi biết trân trọng và chia sẻ, nâng niu những điều đáng quý, đáng thương ở con cảm với những số phận đáng thương, Nam Cao đã lên tiếng thông qua tác phẩm là tiếng nói lên án xã hội đương thời thối nát, bất công, không cho những con người có nhân cách cao đẹp như lão được phẩm “Lão Hạc” cũng mang một giá trị nghệ thuật sâu sắc, thể hiện được phong cách độc đáo của nhà văn Nam Cao. Diễn biến của câu chuyện được kể bằng nhân vật tôi, nhờ cách kể này câu chuyện trở nên gần gũi, chân thực với một hệ thống ngôn ngữ mộc mạc, dễ hiểu, già tính triết tác phẩm có nhiều giọng điệu, kết hợp nhuần nhuyễn giữa hiện thực và trữ biệt, bút pháp khắc hoạ nhân vật tài tình của Nam Cao cũng được bộc lộ rõ rệt với ngôn ngữ sinh động, ấn tượng, giàu tính tạo hình và sức gợi thể nói “Lão Hạc” là một truyện ngắn hết sức thành công của Nam Cao. Nhà văn vừa thể hiện được tấm lòng nhân đạo của mình, đồng thời đánh bật được nét phong cách nghệ thuật độc đáo hiếm có của thiệu về nhà văn Nam Cao và tác phẩm Lão Hạc mẫu 3Ai đã đọc qua 'Lão Hạc", một truyện ngắn xuất sắc người nông dân trước cách mạng tháng tám của nhà văn Nam Cao, hẳn là không thể nào quên được hình ảnh lão nông dân gầy guộc, râu tóc bơ phờ, cặp mắt nhìn xuống đầy u uẩn, khuôn mặt hằn sâu bao nhiêu là nếp nhăn của suy tính, muộn phiền về nhiều nỗi cơ cực ở đời. Đây là một lão nông dân chân lấm tay bùn không tuổi, không tên trong các làng quê tiêu điều, hẻo lánh thời ấy..Lão Hạc nghèo khổ, bất hạnh nhưng có tấm lòng yêu thương sâu sắc, tự trong, đặc biệt là có tấm lòng cao thượng hơn con người. Trang sách đã đóng lại nhưng hình ảnh lão Hạc vẫn lồ lộ hiện ra trông thật tội nghiệp. Đó là một nông dân nghèo khổ cùng quẫn. Vợ mất sớm, lão sống một thân một mình trong những ngày tháng xế bóng cô đơn và vất con trai duy nhất của lão chỉ vì quá nghèo ma` người con gái anh yêu lại trở thành vợ người ấy hơn anh chỉ vì có nhiều tiền. Quá phấn chí, anh ra đi nuôi mộng" Cố chí làm ăn bao giờ có bạc trăm mới về"."Không có tiền sống khổ. sống sở ở cái làng này nhục lắm". Nhưng nơi anh đến lại là đồn điền cao su ở tận Nam kì. một địa ngục trần gian"Cao su đi dễ khó về". Lão Hạc chỉ còn cách thui thủi với " cậu Vàng" làm bạn cho khuây khỏa nỗi nhớ mong. Ngày lại ngày lão lo làm thuê kiếm sống. Nhưng rồi bị một trận ốm nặng phải tiêu sạch hết tiền dành dụm từ hoa lợi mảnh vườn mà lão có ý định để dành tiền cho con trai khi nó trở về. Sau trận ốm, sức khỏe lão sút hẳn đi, không làm thuê nổi nữa thì lại gặp bão, hoa màu bị phá sạch, giá gạo lại lên cao nghe chừng còn đói dai dẳng... vì thế mà lão phải làm một việc làm trái lòng là phải bán "cậu Vàng", người bạn thân thiết trong những ngày tàn bóng thế nữa, đó còn là con vật gợi nhớ về đứa con trai đã đi xa... Thế mà lão phải dứt ruột bán"cậu Vàng" đi bởi vì không thể mỗi ngày có đủ một ngày ba bữa gạo cho mình và con chó. Lúc này, lão không còn có thể làm ra tiền nên tiêu một xu cũng là tiêu vào tiền của cháu nó. Tình cảnh của lão thật là khốn Cao 29 tháng 10, 1917 - 30 tháng 11, 1951 là một nhà văn Việt Nam hiện thực lớn, một nhà nhân đạo chủ nghĩa lớn tiêu biểu nhất thế kỷ 20. Sáng tác của Ông đã vượt qua được những thử thách khắc nghiệt của thời gian, càng thử thách lại càng ngời sáng. Thời gian càng lùi xa, tác phẩm của Nam Cao càng bộc lộ ý nghĩa hiện thực sâu sắc, tư tưởng nhân đạo cao cả và vẻ đẹp nghệ thuật điêu luyện, độc đáo. Ông có nhiều đóng góp quan trọng đối với việc hoàn thiện truyện ngắn và tiểu thuyết Việt Nam ở nửa đầu thế kỷ 20. Nam Cao tên thật Trần Hữu Tri [1], giấy khai sinh ghi ngày 29 tháng 10 năm 1917, nhưng theo người em ruột của ông là Trần Hữu Đạt thì ông sinh năm 1915[cần dẫn nguồn]. Quê ông tại làng Đại Hoàng, tổng Cao Đà, huyện Nam Sang, tỉnh Hà Nam - nay là xã Hòa Hậu, huyện Lý Nhân, Hà Nam. Ông đã ghép hai chữ của tên tổng và huyện làm bút danh Nam Cao.[1] Xuất thân từ một gia đình bậc trung Công giáo, cha Nam Cao là ông Trần Hữu Huệ, thợ mộc, làm thuốc, mẹ là bà Trần Thị Minh làm vườn, làm ruộng và dệt vải. Nam Cao học sơ học ở trường làng. Đến cấp tiểu học và bậc trung học, gia đình gửi ông xuống Nam Định học ở trường Cửa Bắc rồi trường Thành Chung. Nhưng vì thể chất yếu, chưa kịp thi Thành Chung ông đã phải về nhà chữa bệnh, rồi cưới vợ năm 18 Cao từng làm nhiều nghề, chật vật kiếm sống và đến với văn chương đầu tiên vì mục đích mưu sinh. Năm 18 tuổi vào Sài Gòn, ông nhận làm thư ký cho một hiệu may, bắt đầu viết các truyện ngắn Cảnh cuối cùng, Hai cái xác. Ông gửi in trên Tiểu thuyết thứ bảy, trên báo Ích Hữu các truyện ngắn Nghèo, Đui mù, Những cánh hoa tàn, Một bà hào hiệp với bút danh Thúy Rư. Có thể nói, các sáng tác "tìm đường" của Nam Cao thời kỳ đầu còn chịu ảnh hưởng của trào lưu văn học lãng mạn đương Khái quát chung về tác giả Nam CaoNam Cao 1917 - 1951 tên khai sinh là Trần Hữu Tri, sinh ra trong một gia đình nông dân ở làng Đại Hoàng, tổng Cao Đà, huyện Nam Sang, phủ Lí Nhân nay là xã Hòa Hậu, huyện Lí Nhân, tỉnh Hà người Nam Cao nhìn bề ngoài có vẻ lạnh lùng, vụng về, ít nói nhưng đời sống nội tâm lại rất phong phú, luôn luôn sôi sục, có khi căng thẳng. Bình sinh, Nam Cao thường day dứt, hối hận, lấy làm xấu hổ về những việc làm, những ý nghĩ mà ông tự thấy là tầm thường của Cao là người có tấm lòng đôn hậu, chan chứa yêu thương. Ông gắn bó sâu nặng, giàu ân tình với quê hương và những người nghèo khổ bị áp bức, khinh miệt trong xã hội cũ. Nam Cao có khuynh hướng tìm vào nội tâm, đi sâu vào thế giới tinh thần của con người. Ông là nhà văn có biệt tài diễn tả, phân tích tâm lí nhân tác của Nam Cao trước Cách mạng tập trung vào hai đề tài chính người trí thức nghèo và người nông dân văn xuôi Việt Nam hiện đại, Nam Cao là nhà văn có phong cách độc đáo. Nam Cao đặc biệt quan tâm đến đời sống tinh thần của con người, luôn có hứng thú khám phá “con người trong con người” dù viết về người nông dân hay người trí Cao là nhà văn hiện thực lớn, một nhà nhân đạo chủ nghĩa lớn. Sáng tác của ông đã vượt qua những thử thách khắc nghiệt của thời gian, càng thử thách càng sáng ngời. Thời gian càng lùi xa, những tác phẩm của ông lại càng bộc lộ ý nghĩa hiện thực sâu sắc, tư tưởng nhân đạo cao cả và vẻ đẹp nghệ thuật điêu luyện, độc Tóm tắt truyện ngắn Lão HạcTóm tắt văn bản Lão Hạc mẫu 1Lão Hạc là một người nông dân nghèo. Vì không đủ tiền cưới vợ nên cậu con trai lão bỏ đi làm đồn điền cao su, để lão ở nhà một mình cùng với chú chó mà lão đặt tên là cậu Vàng. Cuộc sống khổ cực của cụ với rau cháo qua ngày và chú chó bầu bạn. Lão coi nó như người bạn tri kỉ, cùng nhau làm mọi việc. Nhưng sau trận ốm, lão trở nên kiệt quệ, không còn đủ sức nuôi bản thân cũng như nuôi cậu Vàng. Lão đã suy nghĩ rất nhiều và cuối cùng bán con chó đi. Nhưng vì cảm thấy ăn năn hối lỗi, cũng như giữ lại chút lòng tự trọng cuối cùng cho bản thân mình, lão quyết định ăn bả chó để tự tử và nhờ ông giáo trông coi nhà cửa để cậu con trai về có vốn làm tắt truyện ngắn Lão Hạc mẫu 2Nhà lão Hạc là một người nông dân rất nghèo, vợ mất sớm, con trai lão phải đi làm đồn điền cao su để kiếm tiền cưới vợ. Lão ở nhà với chú chó tên là Cậu Vàng và bầu bạn với nó hằng ngày. Lão coi nó là tri kỉ, lão ăn gì nó ăn nấy, tắm rửa cho nó như một đứa con… cùng nhau sống tằng tiện. Nhưng sau một trận ốm nặng, lão không còn đủ sức để nuôi thân nên quyết định bán con chó đi. Lão vô cùng buồn bã và kể chuyện với ông giáo. Vì ân hận đã lừa một con chó, lão ăn bả chó tự tử và nhờ ông giáo trông coi căn nhà, mảnh vườn đợi khi con lão về có nơi làm đây VnDoc hướng dẫn các bạn học tốt bài Văn mẫu lớp 9 Thuyết minh giới thiệu về nhà văn Nam Cao và tác phẩm Lão Hạc. Hy vọng đây là tài liệu hay cho các em tham khảo, nâng cao kỹ năng viết văn và có thêm nhiều ý tưởng xây dựng bài viết hay, hoàn chỉnh, đạt điểm cao trong các bài thi Văn 9 sắp ra các bạn có thể soạn bài Ngữ văn 9 được VnDoc sưu tầm, chọn lọc để học tốt môn Ngữ văn 9.
100 Stt về Cao Bằng hay, ý nghĩa – những câu cap hay về Cao Bằng ngắn vui Cao Bằng – vùng đất địa đầu Tổ quốc được vạn vật thiên nhiên ưu tiên ban tặng vẻ đẹp vô cùng kỳ thú với núi rừng hùng vỹ. Ở Cao Bằng, mỗi mùa lại có một vẻ đẹp riêng. Nếu chưa từng đến đây, thì dù bạn đi du lịch mùa nào Cao Bằng cũng mang đến cho bạn những cảm nhận mới mẻ và lạ mắt và vô cùng đặc biệt quan trọng Với … Bài viết cùng chủ đề 100 Stt về Cao Bằng hay, ý nghĩa – những câu cap hay về Cao Bằng ngắn vui Cao Bằng – vùng đất địa đầu Tổ quốc được thiên nhiên ưu ái ban tặng vẻ đẹp vô cùng kỳ thú với núi rừng hùng Cao Bằng, mỗi mùa lại có một vẻ đẹp riêng. Nếu chưa từng đến đây, thì dù bạn đi du lịch mùa nào Cao Bằng cũng mang đến cho bạn những cảm nhận mới mẻ và vô cùng đặc biệt Với những câu nói stt hay về Cao Bằng để thể hiện cảm xúc của mình trước cảnh núi non hùng vĩ này nhé Loading … Giới thiệu về Cao Bằng khi đi du lịch Cao Bằng – vùng đất địa đầu Tổ quốc được vạn vật thiên nhiên ưu tiên ban tặng vẻ đẹp vô cùng kỳ thú với núi rừng hùng vỹ. Không chỉ vậy, du lịch Cao Bằng còn là lôi cuốn hành khách bởi những địa điểm mang đậm tính lịch sử dân tộc. Chính điều đó khiến Cao Bằng luôn là vùng đất được nhiều người lựa chọn để thực thi tour du lịch của mình . Ở Cao Bằng, mỗi mùa lại có một vẻ đẹp riêng. Nếu chưa từng đến đây, thì dù bạn đi du lịch mùa nào Cao Bằng cũng mang đến cho bạn những cảm nhận mới mẻ và lạ mắt và vô cùng đặc biệt quan trọng. Tuy vậy, theo kinh nghiệm tay nghề du lịch Cao Bằng của những người đi trước, Cao Bằng lôi cuốn hành khách nhất vào hai thời gian trong năm. Với những người muốn ngắm thác Bản Giốc đổ dài con nước và trong xanh tuyệt đẹp sẽ chọn thời gian tháng 8-9 hàng năm. Tháng 11-12 là khi Cao Bằng cũng ngợp trời hoa tam giác mạch và dã quỳ vàng rực những cung đường . Tiểu sử Facebook chất ngắn — — — — — — — — — — — — — — — — — — — — — — — — — — — — — — — — — — – Những Stt về Cao Bằng hay Đã đến lúc đưa niềm đam mê xê dịch của bạn lên một cấp độ mới với danh sách của chúng tôi bao gồm những câu trích dẫn về khám phá “vùng đất mới” truyền cảm hứng nhất mọi thời đại. Theo từ những bài thơ mang tính biểu tượng và các tác giả cho tới các triết gia và các câu tục ngữ của các dân tộc, những câu trích dẫn truyền cảm hứng khám phá nhất ở đây ít nhiều sẽ khiến bạn tiếp tục lên kế hoạch cho chuyến du lịch tiếp theo ngay khi bạn đọc hết…Hãy cùng stt về Cao Bằng đây nhé Cuộc hành trình dài ngàn dặm bắt đầu từ một bước chân nhỏ bé – Lão Tử. Không phải ai lang thang cũng là người đi lạc – J. R. R. T Không có mảnh đất nào xa lạ. Chỉ có kẻ lữ hành là người lạ – Robert Louis Stevenson. Thế giới là một cuốn sách và người không đi chỉ đọc được một trang – St. Augustine. Tôi thích đi nhưng tôi ghét phải đến nơi – Albert Einstein. Đừng nói với tôi bạn học hành thế nào, hãy nói với tôi bạn đi được bao nhiêu – Mohammed. Một nửa cái thú của việc đi là nghệ thuật đi lạc – Ray Bradbury. Thường xuyên đi, nói chuyện nhiều hơn thay vì chỉ mở mang đầu óc – Elizabeth Drew. Kẻ lữ hành nhìn thấy những gì họ thấy. Khách du lịch nhìn thấy những gì họ đến để thấy – G. K. Chesterton. Điều tuyệt vời nhất từ việc đi là sự hồi tưởng – Paul Theroux. Con người không quyết định những chuyến đi, chính các hành trình quyết định con người – John Steinbeck. Chỉ khi nào đi một mình trong im lặng, không hành lý, ta mới có thể đi vào trái tim của sự hoang dã – John Muir. Hầu hết những ký ức tuyệt vời của tôi là tuyển tập những lần đi – Robert Thomas Allen. Như tất cả những kẻ lữ hành vĩ đại, tôi đã thấy nhiều hơn tôi có thể nhớ, và nhớ nhiều hơn tôi có thể thấy – Benjamin Disraeli. Khi chuẩn bị đi, hãy đặt hết tiền và quần áo của bạn ra. Và chỉ đem theo một nửa số đó – Susan Heller. — — — — — — — — — — — — — — — — — — — — — — — — — — — — — — — — — — Những status về Cao Bằng khi đi du lịch Lợi ích của việc đi là để lấy thực tế điều chỉnh trí tưởng tượng, và thay vì ngồi hình dung ra mọi chuyện, cứ đi để xem nó thực sự như thế nào. Cuộc hành trình dài ngàn dặm bắt đầu từ một bước chân nhỏ bé. – Lão Tử Khi chuẩn bị đi, hãy đặt hết tiền và quần áo của bạn ra. Và chỉ đem theo một nửa số đó. – Susan Heller Đi là kẻ thù chết người của định kiến, mù quáng và thiển cận. – Mark Twain Chắc chắn luôn biết cách “chửi thề” bằng ít nhất 2 ngoại ngữ khác nhau. Cứ rảnh rỗi là sẽ lại đi tìm vé giá rẻ đi đến bất cứ đâu. Không cần nhiều lí do để bắt đầu 1 chuyến đi mới. Mọi thứ có khi chỉ bắt đầu từ một bộ phim, một bài hát, một bức ảnh… Trong ngày hẹn đầu tiên, thể nào cũng lôi chuyện du lịch ra mà nói, và cố gắng tìm hiểu xem liệu người ta cũng có thích đi du lịch giống mình hay câu nói chuẩn không cần chỉnh về dân nghiện đi du lịch-2 Kiểu gì thì cũng sẽ có ít nhất 1 hình xăm được thực hiện ở vùng đất mới, hoặc ít nhất là ao ước tương lai sẽ có 1 cái. Gia đình sẽ chẳng còn hỏi bạn muốn gì vào ngày sinh nhật, vì kiểu gì ngày ấy thì bạn cũng chẳng có ở nhà. Bạn chả cần phải đợi chờ những người xung quanh để đi du lịch cùng nhau. Cứ thế mà đi một mình, tự thân khám phá những vùng đất mới có khi lại hay. Lúc nào cũng mang hộ chiếu theo bên người hoặc luôn biết chắc nó đang ở đâu, vì bạn thường xuyên sử dụng nó. Cái ý tưởng chỉ sống một cuộc đời tại một nơi cố định thật kinh khủng. Luôn luôn có những đất nước và chuyến đi mới được bạn “cho vào tầm ngắm”. Danh sách những điều bạn muốn làm trước khi chết là được đi càng nhiều càng tốt. . Có phải em từ trong truyện cổ tích bước ra không, khiến cho mùa xuân thêm tươi sáng, dịu dàng. Cây cần có lá, biển cần có cá và em cần có anh. Tỉnh dậy nơi vùng núi xa xôi, ánh nắng như người bạn, ngọn gió như tri kỉ và cây cối như lời ca. Xin chào bông hoa nhỏ, em trong sáng không vướng bụi trần khiến anh thấy hổ thẹn. Ý nghĩa của hoa anh đào là gì? Tôi trả lời đó là thanh xuân. Sự tốt lành của hoa thược dược đánh vào ký ức mỗi khi ngồi bên ô cửa sổ nhìn ra vườn. Cốc cà phê đắng thưởng thức chậm rãi, chiêm nghiệm về một quá khứ đau buồn. Em yêu núi, thương non, mê cây cỏ và hóa dại trước cái nhìn trìu mến nơi anh. Cơn gió vô tình thổi qua chiếc lá vàng già nua, yếu ớt. Đưa lá bay xa khỏi vùng thân thuộc ngày xưa. — — — — — — — — — — — — — — — — — — — — — — — — — — — — — — — — — — – câu stt hay về vạn vật thiên nhiên, cảnh sắc, rừng núi, cây cối ở Cao Bằng 1. Có phải em từ trong truyện cổ tích bước ra không, khiến cho mùa xuân thêm tươi tắn, êm ả dịu dàng . 2. Cây cần có lá, biển cần có cá và em cần có anh . 3. Tỉnh dậy nơi vùng núi xa xôi, ánh nắng như người bạn, ngọn gió như tri kỉ và cây cối như lời ca . 4. Xin chào bông hoa nhỏ, em trong sáng không vướng bụi trần khiến anh thấy hổ thẹn . 5. Ý nghĩa của hoa anh đào là gì ? Tôi vấn đáp đó là thanh xuân . 6. Sự tốt đẹp của hoa thược dược đánh vào ký ức mỗi khi ngồi bên ô hành lang cửa số nhìn ra vườn. Cốc cafe đắng chiêm ngưỡng và thưởng thức chậm rãi, chiêm nghiệm về một quá khứ đau buồn . 7. Mùa hạ ban cho ta cái nóng nóng bức, những cuộc chia tay đau buồn. Nụ hôn ở trường bay còn nồng nàn hơn cả lễ đường, lời cầu nguyện tại bệnh viện còn thật tâm hơn trong tu viện kia . 8. Thiên nhiên là phép màu mà tạo hóa ban ơn cho đời sống, hàng cây xanh tốt cùng chim chóc nhảy múa trên cành khiến ta yêu đời hơn được cho phép . 9. Anh ơi vì sao biển xanh lại mặn, hay do nước mắt chan đầy cả vùng biển kia . 10. Em yêu núi, thương non, mê cây xanh và hóa dại trước cái nhìn trìu mến nơi anh . 11. Cơn gió vô tình thổi qua chiếc lá vàng già nua, yếu ớt. Đưa lá bay xa khỏi vùng quen thuộc rất lâu rồi . 12. Con người ta mưu trí cỡ nào, có tài năng ra làm sao cũng đều khuất phục trước sự thống trị của vạn vật thiên nhiên . 13. Những con thác nhỏ đổ xuống không ồn ào, nước trong lành chảy mượt như chính tình yêu tôi dành cho Tổ quốc xanh tươi. 14. Em là loài hoa dại, chỉ nở được khi đứng kề cận anh . 15. Những ai thích ngao du tự tại sẽ hiểu được thế nào là vạn vật thiên nhiên . 16. Mỗi khi buồn tôi liền đi thật xa khỏi thành phố đầy khói bụi, chọn cho mình một vùng quê cây xanh xanh nơi, bốn bề suối chảy róc rách tôi tự thấy được yên bình . 17. Gió vô tình thổi mây rời xa núi để gió có thời cơ được gần mây . 18. Nước càng nhạt nhẽo càng trong khe, một người đơn thuần vậy mà tươi . 19. Nhơn Lý không chỉ đẹp vẻ của biển mà còn đậm màu hoang sơ núi rừng chưa được tìm hiểu và khám phá, có một dòng suối rất đẹp chảy ở núi ra biển suối có nhiều tôm nước suối rất ngọt nếu đi lên cao nguồn thì có nhiều hồ rộng và sâu ngập đầu người xung quanh dòng suối có nhiều bóng mát thích hợp tụ hợp đi dạo . 20. Tôi yêu vạn vật thiên nhiên chính do vạn vật thiên nhiên không phụ bất kể ai. Những người tìm đến sẽ thấy lòng được an nhiên, tự tại . — — — — — — — — — — — — — — — — — — — — — — — — — — — — — — — — — — – 100 Câu nói hay về Cao Bằng ngắn vui Thiên nhiên hùng vĩ được tạo hóa ban cho một vẻ đẹp trong sáng, dịu dàng. Ánh nắng ban mai rọi xuống chồi non đang hé mở, giọt sương đêm còn đọng lại trên mặt lá long lanh, gió vi vu thổi nhẹ trong lành. Khi con người ta đã quen với bốn bề cao ốc cùng khói bụi xe cộ thì khi lạc chân vào thiên nhiên tất cả đều bị lôi cuốn mãnh liệt. Với những câu nói stt hay về Cao Bằng những con thác nhỏ đổ xuống không ồn ào, nước trong lành chảy mượt như chính tình yêu tôi dành cho Tổ quốc xanh tươi. Em là loài hoa dại, chỉ nở được khi đứng kề cận anh. Những ai thích ngao du tự tại sẽ hiểu được thế nào là thiên nhiên. Mỗi khi buồn tôi liền đi thật xa khỏi thành phố đầy khói bụi, chọn cho mình một vùng quê cây cỏ xanh nơi, bốn bề suối chảy róc rách tôi tự thấy được yên bình. Gió vô tình thổi mây rời xa núi để gió có cơ hội được gần mây. Nước càng nhạt nhẽo càng trong khe, một người đơn giản vậy mà tươi. Tôi yêu thiên nhiên bởi vì thiên nhiên không phụ bất kỳ ai. Những người tìm đến sẽ thấy lòng được an nhiên, tự tại. Cung đường trồng nhiều cây xanh sẽ mang lại sự trong lành, con người biết bảo vệ thiên nhiên là bảo vệ hơi thở của chính mình. Tuyết tan, mưa tạnh, hoa tàn. Khi đêm buông xuống lòng người đổi thay. Ta gặp nhau trong một ngày giông bão, bỏ mặc sự đe dọa của thiên nhiên. Tiết xuân làm lòng người phấn khởi, tiết hạ mang lại vẻ khô cằn, tiết thu mang vẻ dịu dàng bi tráng, lập đông lạnh lẽo không người ôm. — — — — — — — — — — — — — — — — — — — — — — — — — — — — — — — — — — – Bài thơ về Cao Bằng hay CAO BẰNG Sông Bằng lạnh buốt chiều đông Núi co ro thấp, mây chồng thâm u Môi hồng ấm gió, hình như… Nụ đào sơn cước, tương tư Cao Bằng — — — — — – TƯỢNG ĐÀI KIM ĐỒNG Tay anh nâng một cánh chim Mắt anh đăm đắm nhìn lên bầu trời Bao nhiêu khát vọng con người Tạc nên dáng tượng chân đồi lặng thinh — — — — — – SUỐI LÊ NIN Núi Các Mác, suối Lê Nin Vẫn dòng suối chảy về tim ngày nào* Sao dời vật đổi biết bao Lắng trong tiếng suối rì rào…ưu tư — — — — — – THÁC BẢN GIỐC Đường về Trùng Khánh bao xa Bỗng thương Bản Giốc chưa qua một lần Lạnh lùng con thác phân thân Nửa phần máu thịt, nửa phần người dưng Stt về Cao Bằng hay Tuy là một tỉnh vùng núi xa xôi ở phía Bắc, nhưng Cao Bằng cũng có rất nhiều khách sạn và nhà nghỉ. Hầu hết các khách sạn đều tập trung tại trung tâm thành phố Cao Bằng. Giá phòng ở đây cũng không quá đắt đỏ. Đến Cao Bằng, bạn có thể chọn xe buýt hoặc thuê xe máy để khám phá vùng đất núi non hùng vỹ này. Với xe máy, bạn liên hệ thuê ngay tại khách sạn mình ở. Và theo kinh nghiệm du lịch Cao Bằng thì xe máy chính là phương tiện tuyệt vời nhất để bạn có thể lang thang hết các chốn ở Cao Bằng. Tags câu nói hay về Cao Bằng, stt về Cao Bằng, status về Cao Bằng, stt hay về Cao Bằng, caption hay về Cao Bằng Loading …
Bài văn mẫu lớp 10Văn mẫu lớp 10 Thuyết minh về một lễ hội truyền thống ở tỉnh Cao Bằng gồm các bài văn mẫu hay cho các em học sinh tham khảo, củng cố kỹ năng cần thiết cho bài kiểm tra viết sắp tới đây của mình. Mời các em học sinh cùng tham khảo chi tiết và tải về bài viết dưới đây minh về một lễ hội truyền thống ở tỉnh Cao Bằng mẫu 1Lễ hội Lồng Tồng hay còn gọi là hội xuống đồng, là một lễ hội truyền thống của dân tộc Tày. Lễ hội được tổ chức hàng năm vào những ngày đầu tháng giêng, kéo dài đến đầu tháng hai âm lịch. Đây là hoạt động tín ngưỡng cầu trời cho mưa thuận gió hòa, cây cối tốt tươi, mùa màng bội thu, đời sống ấm hội Lồng Tồng được tổ chức từ ngày mồng 4 đến ngày mồng 10 tháng giêng. Lồng Tồng theo tiếng Tày – Nùng hay Lồng Tộng theo tiếng Dao có nghĩa là xuống đồng. Đây là một lễ hội mang đậm dấu ấn của nền sản xuất nông nghiệp từ phần nghi lễ khi hội, các nghi thức, sản vật dân cúng đến các trò chơi trong lễ hội. Lễ hội Lồng Tồng đã có từ rất lâu đời, được truyền từ đời này sang đời khác trong cộng đồng người dân tộc Tày, Nùng ở các tỉnh miền núi phía Bắc Thái Nguyên, Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn và một số tỉnh Tây ngày hội, các gia đình đều quét dọn nhà cửa, xóm bản sạch sẽ, chuẩn bị lương thực để đón khách. Vào ngày lễ xuống đồng, ngoài đồng của Bản, mỗi gia đình chuẩn bị một mâm cỗ theo khả năng. Mang hàm ý phô bày sự khéo léo của người phụ nữ trong việc nội trợ, nấu nướng các món ăn truyền thống như bánh chưng, bánh giầy, chè lam, bánh bỏng... Trên mỗi mâm đều có một chiếc bánh hình bông hoa nhiều màu sắc. Mỗi mâm cỗ còn có thêm hai đôi quả còn được làm bằng vải màu, trong nhồi cát, bông, có tua rua nhiều màu sắc sặc hội lồng tồng thường có hai phần là phần lễ và phần hội. Lễ hội bắt đầu khi chiêng trống nổi lên, rồi các bô lão và tráng đinh rước Thần Nông và Thành Hoàng từ đình ra ruộng, còn các gia đình thì rước cỗ bày ra trên bãi hội. Người chủ trì hội xướng bài mo cúng chư thần rồi tuyên bố phá cỗ . Gia đình nào có cỗ thịnh soạn và mời được nhiều khách dự hội đến thưởng thức cỗ nhà mình thì xem đó là điều may mắn cho cả năm. Có nơi các vị bô lão được mời đi thưởng cỗ , có thanh niên gái trai đi theo múa hát, chúc cho từng gia đình vạn sự tốt được tổ chức trên một thửa ruộng lớn gọi là ruộng xuống đồng. Vẫn theo lệ từ ngàn xưa, Hội chia thành hai phần Phần lễ có tạ thiên địa, cầu thần Nông, thần Phục Hy độ trì cho mưa thuận gió hoà, gia súc, gia cầm sinh sôi, bản làng bình yên no ấm... Chủ trì hội là ông Thại đinh người coi đình hay người coi việc thờ cúng Thần Nông của bản. Tất cả gia đình tham dự hội đều mang theo cỗ để làm lễ vật cúng thần đất, thần núi, Thần Nông và Thành Hoàng đó là những mâm cỗ thịnh soạn, trình bày đẹp. Mâm lễ thường có xôi nếp, thịt lợn, rượu trắng và các loại bánh như khẩu sli, khẩu slec, bánh khảo, bánh dày, chè lam...Ở một số hội qui mô lớn, người chủ trì còn cho tổ chức lễ hiến tam sinh trâu, heo, gà hay heo, dê, gà. Trên thửa ruộng xuống đồng đàn tế Thần Nông và các thần khác được trần thiết. Lễ hội bắt đầu khi chiêng trống nổi lên, rồi các bô lão và tráng đinh rước Thần Nông và Thành Hoàng từ đình ra ruộng, còn các gia đình thì rước cỗ, bày ra trên bãi hội. Người chủ trì hội xướng bài mo cúng chư thần rồi tuyên bố phá cỗ . Gia đình nào có cỗ thịnh soạn và mời được nhiều khách dự hội đến thưởng thức cỗ nhà mình thì xem đó là điều may mắn cho cả năm. Có nơi các vị bô lão được mời đi thưởng cỗ, có thanh niên gái trai đi theo múa hát, chúc cho từng gia đình vạn sự tốt lành. Ăn cỗ xong, mọi người tiếp tục ca hát và tham gia các trò chơi dân gian như ném còn, kéo co, đẩy gậy, đánh quay, đánh đu, múa kỳ lân, múa sư tử, múa võ, múa giáo, bịt mắt bắt dê, hát giao duyên hát lượn, thi sản vật địa phương, cờ tướng …Sau phần lễ là phần hội, mở đầu là những tiết mục văn nghệ đặc sắc như hát Then, hát Cọi...Trong phần hội còn có nhiều hoạt động thể thao dân tộc và trò chơi dân gian khác như Ném còn, leo cột, bịt mắt đánh trống, kéo co, đẩy gậy, thi cày ruộng... tất cả đều tạo cho người xem vui vẻ, háo hức chuẩn bị cho một năm mới với những vụ mùa mới năng suất, hiệu quả hội Lồng Tồng của dân tộc Tày, Nùng từ lâu đã trở thành một nét đẹp văn hóa giàu giá trị nhân văn. Với ý nghĩa cùng nét đặc sắc của mình, những ngày lễ hội diễn ra luôn thu hút đông đảo sự tham quan của du khách bốn minh về một lễ hội truyền thống ở tỉnh Cao Bằng mẫu 2Lễ hội pháo hoa Quảng Uyên là lễ hội truyền thống độc đáo với màn tranh pháo hoa đầu xuân của các xã tại thị trấn Quảng Uyên để cầu mong cho một năm mới may mắn, phát tài, phát lộc. Hàng năm, cứ vào ngày 2/2 âm lịch, nhân dân và du khách thập phương lại nô nức về Quảng Uyên trảy hội pháo hoa Quảng Uyên là lễ hội lớn nhất trong năm của nhân dân huyện Quảng Uyên, gắn với các yếu tố về lịch sử, tâm linh của miếu Bách Linh. Miếu được xây từ thời Lý dưới chân núi Cốc Bó, đến thời nhà Nguyễn được xây dựng lại hoàn toàn theo kiến trúc thời Nguyễn. Trước cổng có tam quan, sân tiền đường, hậu đường và hậu cung, hoành phi, câu đối. Trên cổng khắc 3 chữ “Bách Linh miếu”, có đắp nổi con rồng uốn khúc, xây bằng gạch vồ gạch thời Mạc, có bức trạm rồng ngậm ngọc, bên cạnh có chim phượng cùng long ly tụ đặc sắc nhất trong phần lễ là màn “khai quan” cho rồng mở mắt. Rồng được khai quan từ một mỏ nước người dân địa phương gọi là bó Cốc Chủ - mỏ nước ở dưới gốc cây cổ thụ. Lễ do một cụ cao tuổi, có uy tín làm chủ lễ và một đội rồng gồm 15 người 3 người đánh trống, một người cầm quả cầu và 11 người múa rồng làm lễ tại mỏ nước. Khi ra mỏ nước, rồng không được múa, không được đánh trống mà được bịt mắt bằng giấy bản, đến mỏ nước, rồng nằm phục ở đó. Người chủ lễ thắp hương vái thiên địa, cầu xin thần linh phù hộ cho người dân địa phương một năm làm ăn mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, đời sống ấm no, hạnh phúc và xin được mở mắt cho rồng. Cúng xong, chủ lễ cắt tiết con gà trống, lấy máu xoa vào hai mắt rồng rồi bỏ giấy ở mắt rồng ra, lúc này rồng đã được mở mắt, sau ba hồi trống nổi lên để đánh thức, rồng bắt đầu cử động từ đầu đến thân rồi đuôi. Sau đó, người ta đánh trống thúc giục và rồng từ từ bay lên, rồng bay quanh mỏ nước ba lần rồi đi vào miếu Bách Linh; trong miếu đã được đặt lễ và thắp hương, rồng vào miếu vái ba lần, sau đó đi trong miếu một vòng rồi ra vật dâng lên tế lễ gồm 2 con lợn quay, 1 mâm xôi, 1 mâm trứng nhuộm phẩm đỏ, 1 mâm hoa quả. Phần lễ diễn ra long trọng với 4 đoàn rước kiệu, mỗi kiệu có 4 người khiêng, mặc lễ phục. Đầu tiên là kiệu rước ảnh Bác Hồ, thứ hai là kiệu rước thần, thứ ba là kiệu pháo hoa, cuối cùng là kiệu rước một con lợn quay, là phần thưởng cho đội thắng cuộc trong trò chơi cướp đầu pháo. Theo sau đoàn rước kiệu là đoàn rước rồng, sau khi làm thủ tục thắp hương tại miếu, đoàn rước rồng xuất phát đến Đền thờ Nùng Trí Cao, Đền thờ Trần Hưng Đạo, sau đó đi khắp phố tới từng nhà. Đi tới đâu rồng cũng được người dân tiếp đón rất nồng nhiệt, trang hội diễn ra sôi nổi với nhiều trò chơi dân gian và biểu diễn văn nghệ, như múa rồng, múa lân, tung còn, hát lượn, tranh đầu pháo... Trò chơi tiêu biểu của lễ hội là trò cướp đầu pháo, đầu pháo làm từ chiếc vòng sắt trang điểm tua ngũ sắc sặc sỡ, pháo được đặt trên một đài cao, sau khi đốt pháo, chờ cho đầu pháo rơi xuống, các đội bắt đầu tranh cướp, đội nào cầm được đầu pháo mang đến cho Ban Tổ chức là đội thắng cuộc. Gần đây, khi có lệnh cấm đốt pháo, Ban Tổ chức đã tiến hành trò chơi bằng cách đứng trên đài cao rồi tung vòng sắt đầu pháo ra cho các đội tranh cướp như thường lệ. Theo quan niệm của người dân địa phương thì ai bắt được vòng lộc pháo thì cả năm sẽ gặp may mắn, phát tài, phát lộc và đem lại vinh dự lớn cho xã mình. Xã nào thắng cuộc sẽ được phần thưởng là một con lợn quay trên kiệu trong lễ rước thần, cỗ kiệu cũng được để lại cho xã đó hương khói cầu lộc một năm đến lễ hội pháo hoa năm sau, địa phương này lại chuẩn bị một con lợn quay để lên kiệu, đoàn rước rồng sẽ đến lấy làm lễ rước thần, đồng thời làm phần thưởng cho đội thắng cuộc thi năm thời gian, lễ hội pháo hoa Quảng Uyên đã tồn tại trong tâm thức nhiều thế hệ người dân Quảng Uyên và trở thành nét đẹp tinh thần không thể thiếu mỗi dịp xuân lễ hội ở Cao Bằng đều mang tính nhân văn sâu sắc, hướng thiện, cầu phúc, cầu lộc, cầu mùa, và mong muốn cho cuộc sống ngày càng tốt đẹp. Bên cạnh đó, còn có các lễ hội tôn vinh những anh hùng chống giặc ngoại xâm, các lễ hội thực hiện các nghi lễ, tập tục của dân tộc… Đồng thời lễ hội cũng là nơi bảo tồn, giữ gìn những giá trị của văn hoá, nghệ thuật truyền thống. Những câu hát Then, điệu hát Sli, Lượn, Phongslư, Dá Hai, Hà Lều… với những giai điệu ngọt ngào, da diết cùng những trò chơi dân gian thực sự hấp dẫn là những tiềm năng du lịch văn hoá rất lớn của vùng đất Cao đây VnDoc hướng dẫn các bạn học tốt bài Văn mẫu lớp 10 Thuyết minh về một lễ hội truyền thống ở tỉnh Cao Bằng. Bài viết được tổng hợp gồm có 2 bài văn mẫu thuyết minh về một lễ hội truyền thống ở tỉnh Cao Bằng. Hi vọng qua bài viết này bạn đọc có thể học tập tốt hơn môn Văn lớp 10 nhé. Ngoài ra để giúp bạn đọc có thêm nhiều tài liệu học tập hơn nữa, mời các bạn có thể soạn bài Ngữ văn 10 được VnDoc sưu tầm, chọn lọc để học tốt môn Ngữ văn bạn đọc cùng tham khảo thêm tài liệu bài tiếp theo Thuyết minh về một cuốn sáchThuyết minh về khu danh thắng Tây ThiênThuyết minh về làng Sen - Quê bác
Những bài ca dao - tục ngữ về "Cao Bằng" Mai anh đi thú Cao Bằng Mai anh đi thú Cao Bằng Giã em ở lại đạo hằng chớ quên Cao Bằng, Cao Bẳng, Cao Băng Cao Bằng, Cao Bẳng, Cao Băng Cao lên tỉnh Lạng, cao bằng ngọn tre Gái chính chuyên lấy được chín chồng Gái chính chuyên lấy được chín chồng Ba chồng thành Lạng, ba chồng thành Cao Ba chồng để ngọn sông Đào Trở về đỏng đảnh làm cao chưa chồng Cái cò lặn lội bờ sông Cái cò lặn lội bờ sông Gánh gạo nuôi chồng nước mắt nỉ non Nàng ơi trở lại cùng con Để anh đi trẩy nước non Cao Bằng Chân đi đá lại dùng dằng Nửa nhớ Cao Bằng nửa nhớ vợ con Đi thời nhớ vợ cùng con Khi về nhớ củ khoai môn trên rừng Nàng về giã gạo ba trăng Nàng về giã gạo ba trăng Để anh gánh nước Cao Bằng về ngâm Nước Cao Bằng ngâm thì trắng gạo Anh biết em liệu có được chăng Trần trần như Cuội cung trăng Biết rằng cha mẹ có bằng lòng không? Để anh chờ đợi luống công Trước sau anh vẫn một lòng yêu em Cái cò lặn lội bờ sông Cái cò lặn lội bờ sông Gánh gạo đưa chồng, tiếng khóc nỉ non Nàng về nuôi cái cùng con Để anh đi trẩy nước non Cao Bằng Ở nhà có nhớ anh chăng? Để anh kể nỗi Cao Bằng cho nghe Lính thú Lính đi đóng đồn, canh phòng ở các vùng biên giới. Cao Bằng Một tỉnh thuộc vùng Đông Bắc nước ta, có núi, rừng, sông, suối trải dài hùng vĩ, bao la, thiên nhiên còn nhiều nét hoang sơ. Cao Bằng nổi tiếng với thắng cảnh thác Bản Giốc. Ngoài ra, nơi đây còn có các khu du lịch nổi tiếng khác như Động Ngườm Ngao hay hồ núi Thang Hen. Vì là vùng đất biên giới nên xưa kia các triều đại phong kiến nước ta luôn cho quân lính đồn trú tại Cao Bằng gọi là trấn thủ lưu đồn. Thác Bản Giốc Giã Như từ giã. Chào để rời đi xa. Đạo hằng Đạo thường. Ý nói ăn ở bình thường, ngay thẳng, có đạo đức. Cũng nói là tính tánh hằng. Lạng Sơn Còn gọi là xứ Lạng, một tỉnh ở vùng Đông Bắc nước ta. Lạng Sơn có nhiều thắng cảnh nổi tiếng như động Nhị Thanh, chùa Tam Thanh, ải Chi Lăng, núi Tô Thị... Phong cảnh Lạng Sơn Chính chuyên Tiết hạnh, chung thủy với chồng từ Hán Việt. Thành cổ Lạng Sơn Một di tích kiến trúc quân sự nằm ở phường Chi Lăng, thành phố Lạng Sơn. Thời phong kiến, đây là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của Lạng Sơn. Đoàn thành có vị trí quan trọng trong việc trấn giữ phòng thủ quân sự nơi cửa ngõ đất nước, nằm trong thung lũng thành phố Lạng Sơn, xung quanh có núi cao bao bọc. Thành cổ Lạng Sơn Thành cổ Cao Bằng Một di tích kiến trúc quân sự thuộc thị xã Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng. Vào thời Lê, Cao Bằng là trấn nên triều đình cho xây thành trấn giữ. Thành như hiện thấy được xây dựng vào đời Gia Long, tu sửa vào năm 1936. Thành nằm giữa hai con sông Bằng và sông Hiến, mở hai cửa, xây ba mặt, lưng tựa vào núi Ninh Lĩnh. Thành cổ Cao Bằng Chú thích này đang để ngỏ. Nếu bạn có thông tin về , hãy đóng góp cho chúng tôi. Trẩy Đi đến nơi xa thường nói về một số đông người. Trẩy hội nghĩa là đi dự ngày hội hằng năm. Thời Thì. Xưa vì kị húy vua Tự Đức Nguyễn Phúc Thì nên chữ này được đọc chạnh đi thành "thời." Khoai môn Tên một số giống khoai gặp nhiều ở nước ta, cho củ có nhiều tinh bột, ăn được. Có nhiều giống khoai môn như môn xanh, môn trắng, môn tím, môn tía, môn bạc hà, môn sáp, môn sen, môn thơm, môn trốn... mỗi loại có những công dụng khác nhau như nấu canh, nấu chè... Trước đây môn, sắn, khoai, ngô... thường được ăn độn với cơm để tiết kiệm gạo. Cây và củ khoai môn Lúa Ba Trăng Một giống lúa cổ ở nước ta, thời xưa được trồng nhiều ở Nghệ An, từ lúc gieo mạ tới lúc lúa chín vừa vặn ba tháng. Lúa Ba Trăng cho gạo trắng, cơm dẻo, nhiều bột. Theo Vân Đài Loại Ngữ, Lê Quý Đôn. Cuội Một nhân vật trong truyện cổ tích Việt Nam. Chú Cuội hay thằng Cuội là một người tiều phu. Cuội có một cây đa thần, lá có khả năng cải tử hoàn sinh. Một hôm vợ Cuội tưới nước bẩn vào gốc cây đa, cây đa trốc gốc bay lên trời. Cuội bám vào rễ đa kéo lại, nhưng cây đa bay lên đến tận cung Trăng. Từ đó trên cung Trăng có hình chú Cuội. Xem thêm Sự tích chú Cuội cung trăng.
bài văn giới thiệu về cao bằng