Khi đó cục máu đông thường phát triển theo hướng dòng máu chảy chậm trong tĩnh mạch, đôi khi theo toàn bộ chiều dài tĩnh mạch chi dưới và thậm chí phát triển lên đến tĩnh mạch chậu chung và tĩnh mạch chủ dưới.
TTTĐ - Tiếp nối thành công của chương trình Tâm điểm giai đoạn 1 năm 2020, Novartis Việt Nam và VNHA chính thức ký kết thỏa thuận hợp tác về triển khai chương trình Tâm điểm giai đoạn 2 - chuỗi hội thảo trực tuyến về sức khỏe tim mạch dành cho bác sĩ, chuyên gia y tế trên toàn quốc.
Ngày 23/11/2020 Bệnh viện Bạch Mai tổ chức buổi Đào tạo y khoa liên tục với chủ đề "Hướng tiếp cận toàn diện trong chuỗi bệnh lý tim mạch - Bằng chứng khoa học mới". Buổi đào tạo diễn ra dưới dự chủ trì của GS. TS. BS. Nguyễn Quang Tuấn Giám đốc Bệnh viện
Chống chỉ định điều trị nhiệt nội tĩnh mạch: không sờ thấy mạch ở bàn chân, bệnh nhân bất động, tình trạng sức khỏe chung kém, huyết khối tĩnh mạch sâu, có thai, tĩnh mạch hiển xoắn vặn không thể đưa ca-tê-te vào nội tĩnh mạch.
Biện luận điều trị. Trên bệnh nhân nhồi máu não có tăng huyết áp/ tiền sử đột quỵ, theo khuyến cáo của VNHA 2015 chỉ điều trị huyết áp trong pha cấp của đột quỵ khi: HA tăng cực cao (HATT > 220 mmHg, HATTr > 120 mmHg) điều trị giảm HATB 15-25% qua 24 giờ đầu.
4gyG. Viêm tĩnh mạch huyết khối là tình trạng viêm tĩnh mạch có sự hình thành huyết khối. Huyết khối là nguyên nhân chính gây ra những biến chứng nguy hiểm trong bệnh này. Hệ thống tĩnh mạch có nhiệm vụ đưa lượng máu sau khi trao đổi oxy từ các cơ quan về tim. Có 3 loại tĩnh mạch bao gồm tĩnh mạch nông nằm gần da, tĩnh mạch sâu, và các tĩnh mạch xuyên đưa máu từ tĩnh mạch nông đổ về tĩnh mạch sâu. Cấu tạo của hệ tĩnh mạch có các van một chiều cho phép máu di chuyển theo một hướng nhất tĩnh mạch huyết khối hay còn gọi là viêm tĩnh mạch là tình trạng tĩnh mạch bị viêm và hình thành các cục máu đông. Viêm tĩnh mạch huyết khối có thể xảy ra ở bất kỳ tĩnh mạch nào nhưng thường xảy ra ở những tĩnh mạch nhỏ và trung bình; có thể gặp ở nhiều tình mạch khác bao gồm cả chi trên và chi dưới tuy nhiên bệnh hay gặp ở chi dưới hơn các vị trí tĩnh mạch huyết khối có thể gặp viêm tĩnh mạch nông hay tĩnh mạch sâuViêm tĩnh mạch huyết khối nông xảy ra ở các tĩnh mạch nhỏ gần mặt da, thường ít gây biến chứng tắc mạch tĩnh mạch huyết khối sâu Thường do hình thành huyết khối ở tĩnh mạch lớn, nguy cơ biến chứng tắc mạch rất cao. Khi huyết khối bị vỡ và gây thuyên tắc phổi rất cao. Bệnh thường gặp ở chi dưới nhưng cũng có thể gặp ở chi trên, tĩnh mạch cửa, tĩnh mạch lách... Viêm tĩnh mạch huyết khối là tình trạng viêm tĩnh mạch có sự hình thành huyết khối 2. Nguyên nhân gây viêm tĩnh mạch huyết khối Một số nguyên nhân và yếu tố gây ra tình trạng viêm tĩnh mạch huyết khối gồmÍt vận động hay phải bất động Nằm viện phải điều trị nằm kéo dài, liệt vận động, lười vận động hay ngồi những phẫu thuật lớn hay gặp sau một chấn thương Tăng lượng estrogen Do sử dụng thuốc ngừa thai, thai kỳ bao gồm 6 tháng sau sinh, điều trị hormon thay nội khoa Ung thư, suy tim, các rối loạn miễn dịch lupus, viêm đa khớp dạng thấp, mắc bệnh hội chứng thận hưCác yếu tố nguy cơ khác bao gồmHuyết khối hình thành trước đóRối loạn đông máuTình trạng thừa cân, béo phìLớn tuổi Người trên 60 tuổi có nguy cơ mắc bệnh thuốc lá Đây là yếu tố nguy cơ hay gặp, hút thuốc lá gây tổn thương thành mạch và tăng nguy cơ huyết khốiGiãn tĩnh mạch. Tình trạng thừa cân, béo phì cũng là một trong những yếu tố nguy cơ gây viêm tĩnh mạch huyết khối 3. Dấu hiệu nhận biết của viêm tĩnh mạch huyết khối Các triệu chứng thông thường của bệnh gồmTại vị trí viêm tắc thấy thay đổi màu sắc da, lạnh chi, cảm giác tê hay nóng ran. Sau đó vùng da bị đỏ, sưng hoặc nóng, thấy sự khác biệt giữa hai chi chi mắc bệnh và chi Viêm tắc tĩnh mạch nông sẽ gây ra cảm giác cứng, căng và đau ở vùng chân hoặc cánh tay. Đau có thể liên tục hay đau khi đi lại, mức độ đau tùy từng trường hợp có khi rất thể thấy giãn các tĩnh mạch ở thể thấy hiện tượng loét và hoại tử cho do thiếu máu nuôi bệnh có thể xuất hiện tình trạng sốt, đi kèm với các dấu hiệu hiện khi có các biến chứng bao gồm Khó thở không biết nguyên nhân, ho nhiều đôi khi ho ra máu, đau tức ngực... là những biểu hiện khi huyết khối tĩnh mạch sâu gây biến chứng thuyên tắc phổi. Khi có các triệu chứng này cần đến viện ngay để được điều trị kịp thời. 4. Biến chứng viêm tĩnh mạch huyết khối Thông thường việc viêm tĩnh mạch là lành tính, nhưng biến chứng gây ra chủ yếu do sự hình thành huyết khối. Biến chứng hay gặp hơn ở những người viêm tĩnh mạch huyết khối biến chứng có thể xảy ra bao gồmBiến chứng nguy hiểm nhất sự hình thành cục máu đông gây ra thuyên tắc phổi Huyết khối tĩnh mạch theo dòng máu tĩnh mạch đổ về tâm nhĩ phải, rồi đổ xuống tâm thất phải, sau đó tâm thất phải bóp tống cục máu đông lên phổi, do tại đây hệ thống mạch máu tại phổi nhỏ nên cục máu đông không di chuyển được gây ra tắc mạch phổi. Nếu không được phát hiện điều trị thì nguy cơ tử vong rất loét da và hoại tử vùng dưới vị trí tĩnh mạch bị huyết chứng đau mạn tính, gây phù nề chi kéo dài. Biến chứng nguy hiểm nhất sự hình thành cục máu đông gây ra thuyên tắc phổi 5. Cách phòng bệnh viêm tĩnh mạch huyết khối Viêm tĩnh mạch huyết khối có nhiều yếu tố ảnh hưởng, chúng ta hoàn toàn có thể hạn chế được một số yếu tố. Góp phần giảm thiểu nguy cơ huyết khốiNgưng hút thuốc Hút thuốc được cho là yếu tố quan trọng và có thể cải thiện trì cân nặng hợp lý, giảm cân nếu thừa cân hoặc béo động thường xuyên, đặc biệt ở những người phải ngồi lâu hay đi máy bay trong thời gian dài. Ngoài ra, việc vận động thường xuyên cũng giúp duy trì cân nặng hợp những phụ nữ điều trị hormon thay thế cần được theo dõi định kỳ bởi các chuyên gia y tĩnh mạch huyết khối là bệnh có thể gây những biến chứng nguy hiểm. Tuy vậy chungs ta có thể phòng ngừa bằng nhiều cách. Trường hợp thấy có các biểu hiện nghi ngờ bệnh nên tới các cơ sở y tế để được khám và điều trị sớm tránh xảy ra các biến chứng nguy có nhu cầu tư vấn và thăm khám tại các Bệnh viện Vinmec thuộc hệ thống Y tế trên toàn quốc, Quý khách vui lòng đặt lịch trên website để được phục vụ. Để đặt lịch khám tại viện, Quý khách vui lòng bấm số HOTLINE hoặc đặt lịch trực tiếp TẠI ĐÂY. Tải và đặt lịch khám tự động trên ứng dụng MyVinmec để quản lý, theo dõi lịch và đặt hẹn mọi lúc mọi nơi ngay trên ứng dụng. XEM THÊM Hướng dẫn phòng ngừa và chăm sóc người bị suy giãn tĩnh mạch Nguyên nhân, yếu tố nguy cơ của suy giãn tĩnh mạch chi dưới mãn tính Cách sử dụng dây thìa canh
Bệnh giãn tĩnh mạch chân hay còn gọi là giãn tĩnh mạch chi dưới ngày nay được xem như là bệnh lý thời đại bên cạnh bệnh tăng huyết áp và đái tháo đường khi tần suất mắc bệnh tăng nhanh trong dân số, đặc biệt tỷ lệ mắc phải ở nữ giới cao gấp 3 lần nam giới. Đây là bệnh lý của hệ thống tĩnh mạch chi dưới khi máu từ chân trở về tim bị cản trở, gây ứ trệ tuần hoàn ở chi dưới, về lâu dài sẽ ảnh hưởng nhiều đến sức khỏe và chất lượng cuộc sống của người bệnh. Giãn tĩnh mạch chân là hậu quả của tình trạng viêm thành tĩnh mạch, trào ngược máu tĩnh mạch xuống chân, cản trở máu từ chân trở về tim gây ứ trệ tuần hoàn, tĩnh mạch từ đó dần giãn to ra, sau đó sẽ đưa đến biến chứng suy tĩnh mạch và huyết khối tĩnh mạch sâu. Một số nguyên nhân cụ thể gây bệnh giãn tĩnh mạch chi dưới là Van tĩnh mạch bị thoái hóa, lâu dài gây suy tĩnh mạch Chấn thương làm hỏng van Huyết khối tĩnh mạch sâu chi dưới Hệ tĩnh mạch chi dưới bị chèn ép do các nguyên nhân như u, thai Bất thường bẩm sinh về hệ tĩnh mạch chi dưới, bao gồm cả van tĩnh mạch như sa van, giãn vòng van, thiểu sản hoặc bất sản van. Hội chứng Klippel Tranaunay Webber Hội chứng May Thuner Trong giai đoạn đầu, người bệnh thường than phiền về các triệu chứng như cảm giác tức nặng hai chân, đôi khi thấy phù chân vào cuối ngày, đau bắp chân, hoặc có cảm giác tê rần ở hai chi dưới. Triệu chứng chuột rút, vọt bẻ có thể xuất hiện về đêm. Các triệu chứng tại chỗ thường ảnh hưởng nhiều đến chất lượng cuộc sống của người bệnh. Trong giai đoạn sau của bệnh, thầy thuốc có thể quan sát được các búi tĩnh mạch nổi rõ ngoằn ngoèo dưới da. Tình trạng loét da chân do thiếu dinh dưỡng, viêm tĩnh mạch hoặc huyết khối tĩnh mạch sâu có thể gặp ở những trường hợp nặng. Đây là những biến chứng nặng nề của bệnh giãn tĩnh mạch chi dưới. Lúc này dù được điều trị tích cực nhưng các triệu chứng này chỉ thuyên giảm chậm và khó lành. Bệnh biểu hiện và diễn tiến nặng nề hơn ở phụ nữ có thai. Lí do cho tình trạng này là khi mang thai tử cung to nên chèn ép máu tĩnh mạch về tim nhiều hơn và sự thay đổi nội tiết tố trong thai kỳ làm xấu thêm tình trạng giãn tĩnh mạch chân. Các đối tượng nguy cơ của bệnh giãn tĩnh mạch chi dưới bao gồm Người lớn trên 50 tuổi Thừa cân, béo phì Chế độ ăn ít hoa quả và rau xanh gây táo bón Người lao động phải đứng và ngồi trong thời gian dài Mang áo quần bó sát hai chân Đi giày cao gót thường xuyên Phụ nữ mang thai nhiều lần Sử dụng thuốc ngừa thai Tiền sử gia đình có người mắc bệnh giãn tĩnh mạch chi dưới. Giãn tĩnh mạch chân ngày nay được chẩn đoán dễ dàng với các triệu chứng lâm sàng gợi ý như căng tức, tê rần hai chi dưới, đau bắp chân, phù chân, chuột rút hai chi dưới, các búi tĩnh mạch nổi rõ ngoằn ngoèo dưới da và siêu âm hệ thống tĩnh mạch. Siêu âm màu hệ thống tĩnh mạch chi dưới giúp xác định và đánh giá mức độ suy giãn của các tĩnh mạch, phát hiện sự hiện diện của huyết khối tĩnh mạch sâu từ đó gợi ý cho bác sĩ có quyết định phẫu thuật cho bệnh nhân hay không. Đây là phương pháp chẩn đoán không xâm lấn, có thể thực hiện lặp lại nhiều lần và có độ chính xác cao trên 90%. Xem thêm Cải thiện giãn tĩnh mạch chân qua các bài tập tại nhà Bệnh giãn tĩnh mạch chi dưới có thể được điều trị hiệu quả nếu phát hiện ở giai đoạn sớm khi bệnh còn nhẹ, chưa có biến chứng và người bệnh kiên trì phối hợp điều trị tốt với thầy thuốc. Giãn tĩnh mạch chi dưới giai đoạn sớm có đáp ứng tốt khi phối hợp giữa việc thay đổi thói quen làm việc và sinh hoạt như hạn chế đứng hay ngồi lâu một tư thế, mặc áo quần rộng rãi, thay đổi chế độ dinh dưỡng với bổ sung chất xơ và vitamin C để tăng cường sức bền thành mạch, phòng ngừa biến chứng viêm thành mạch, sử dụng các thuốc tăng cường trương lực tĩnh mạch và mang vớ y tế đúng theo hướng dẫn. Trong những trường hợp nặng hơn ở giai đoạn muộn của bệnh, các biện pháp không can thiệp kể trên cần được thay thế bằng các phương pháp ngoại khoa có xâm lấn khác như chích xơ tĩnh mạch, đốt tĩnh mạch bằng sóng cao tần hoặc laser, dán thành tĩnh mạch bằng keo sinh học để mang lại hiệu quả điều trị cao hơn, rút ngắn thời gian nằm viện. Tuy nhiên nhược điểm của các phương pháp này là chi phí điều trị cao hơn hẳn các biện pháp không can thiệp nên không thể dễ dàng áp dụng cho tất cả bệnh nhân giãn tĩnh mạch chi dưới. Phẫu thuật cắt bỏ tĩnh mạch bị giãn là phương án điều trị cuối cùng, điều trị triệt để bệnh với tỷ lệ thành công cao trên 95%. Phẫu thuật Stripping là phương pháp phẫu thuật cổ điển được lựa chọn một cách phổ biến. Xem thêm Hướng dẫn phòng ngừa và chăm sóc người bị suy giãn tĩnh mạch Bài tập điều trị phục hồi chức năng suy giãn tĩnh mạch ở chi dưới Suy tĩnh mạch là bệnh gì? Có nguy hiểm không?
Bài viết được tư vấn chuyên môn bởi Thạc sĩ, Bác sĩ Cao Thanh Tâm - Bác sĩ Nội tim mạch - Trung tâm Tim mạch - Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Central Park. Thạc sĩ - Bác sĩ Cao Thanh Tâm đã có nhiều năm kinh nghiệm trong chẩn đoán, điều trị bệnh lý tim mạch Huyết khối có thể xảy ra ở bất kỳ mạch máu nào trong cơ thể, nhưng đa số là tại các tĩnh mạch, nhất là các tĩnh mạch nằm sâu bên trong cơ thể như là ở chân gây ra bệnh huyết khối tĩnh mạch sâu Deep Vein Thrombosis – DVT. Huyết khối là quá trình các tế bào máu tập trung đến các mạch máu bị rách và làm ngừng chảy máu khi bạn bị thương, ví dụ như bạn vô tình làm mình chảy máu, lúc này quá trình đông máu sẽ được kích hoạt. Các tiểu cầu được triệu tập đến vùng tổn thương để tạo ra nút chặn ban đầu. Các yếu tố đông máu trong máu gây ra một phản ứng dây chuyền nhanh chóng, dẫn đến hình thành các sợi fibrin giữ các tiểu cầu với nhau. Nhiều tiểu cầu phóng thích các chất hóa học để thu hút các tiểu cầu khác tạo thành một cục máu đông bền hơn và ngăn chặn tình trạng chảy máu. Các protein trong cơ thể giúp xác định thời điểm dừng lại quá trình tạo cục máu đông khi nó đủ lớn. Khi vết thương được chữa lành, các sợi sẽ tự hòa tan và những tiểu cầu quay trở lại mô máu bình thường. 2. Cơ chế hình thành huyết khối Huyết khối hay cục máu đông được định nghĩa là một quá trình bệnh lý do sự phát động và lan rộng bất hợp lý của các phản ứng đông cầm máu trong cơ thể dẫn đến hình thành cục máu đông trong lòng mạch máu. Tuỳ theo kích thước của huyết khối, đường kính mạch máu mà huyết khối có thể gây tắc mạch hoàn toàn hay bán tắc hoặc nghẽn mạch...Các giai đoạn hình thành huyết khốiQuá trình hình thành cục máu đông huyết khối chính là quá trình đông máu với trên 30 yếu tố tham gia vào quá trình này, trải qua các giai đoạn Giai đoạn thành mạchKhi mạch máu bị tổn thương, thành mạch co lại theo cơ chế phản xạ. Tiểu cầu đang di chuyển tự do trong lòng mạch sẽ tụ lại chỗ tổn thương hình thành một nút gọi là cục máu trắng hay đinh Hayem, các tiểu cầu sẽ bám dính lại với nhau và chế tiết ra một số yếu tố khởi động cho quá trình đông máu và đây được gọi là giai đoạn tự cầm Giai đoạn huyết tươngGiai đoạn này khá phức tạp. Trong các mạch máu với sự tham gia của rất nhiều các yếu tố; hình thành thromboplastin, hình thành thrombin tác động lên fibrinogen cuối cùng tạo nên các sợi tơ huyết fibrin. Giai đoạn huyết khối đôngGồm giai đoạn co cục máu và tiêu cục máu đông. Sự tiêu cục máu đông nhờ khả năng phân hủy của men plasmin được điều hòa bởi một số chất kích thích và ức loại huyết khốiXét về cấu trúc, huyết khối thường có hai loại là huyết khối trắng và đỏ, cũng có thể gặp loại hỗn hợp. Huyết khối trắng hình thành khi tế bào nội mạc mạch máu bị tổn thương, tiểu cầu kết dính và ngưng tập, thành phần chủ yếu là tiểu cầu; thường gặp ở động mạch như mạch vành, mạch não,...Huyết khối đỏ hình thành khi dòng máu chảy chậm với thành phần chính là sợi fibrin bao bọc hồng cầu, thường gặp ở tĩnh ra, huyết khối còn được phân thành huyết khối động mạch, tĩnh mạch và vi khối động mạch có thành phần chủ yếu là tiểu cầu. Tổn thương thành mạch và sự tăng hoạt hóa tiểu cầu là yếu tố chính gây huyết khối. Thường gặp ở người bệnh tim mạch như tăng huyết áp, mỡ máu, đái tháo đường... Xét về cấu trúc, huyết khối thường có hai loại là huyết khối trắng và đỏ 3. Những yếu tố gây nên huyết khối tắc mạch Bất thường thành mạchCấu trúc thành mạch bình thường gồm 3 lớp ngoại mạc, trung mạch và nội mạch. Trong đó, lớp nội mạc tiếp xúc trực tiếp với dòng máu lưu thông trong mạch. Bình thường, lớp nội mạc sẽ tổng hợp và bài tiết ra những chất ức chế hoạt hóa tiểu cầu và làm giãn mạch. Khi có sự không toàn vẹn của nội mạc sẽ khiến tắc mạch bởi mất các đặc tính chống tắc mạch và sự bộc lộ các thành phần hoạt hoá tiểu cầu ở dưới nội mạc. Thường gặp ở những người bệnh xơ vữa động mạch vành, tăng huyết áp,... Bất thường dòng chảy của máuKhi dòng chảy của máu tăng, độ dịch chuyển cao hoặc dòng chảy của máu giảm, độ dịch chuyển giảm hoặc độ nhớt của máu tăng đều sẽ kích hoạt tiểu cầu dẫn đến hình thành huyết khối gây tắc Bất thường các thành phần máuTất cả những bất thường về tiểu cầu, yếu tố đông máu, các chất ức chế đông máu cũng như những yếu tố tham gia hệ thống tiêu sợi huyết đơn độc hoặc kết hợp đều có thể dẫn tới huyết khối cục máu đông. 4. Dấu hiệu của huyết khối Sưng nề một chânTrong hầu hết các trường hợp, DVT sẽ dẫn đến sưng ở chân bị bệnh. Nó thường dễ nhận thấy ở dưới đầu gối và hiếm khi xảy ra ở cả hai chân. Nguyên nhân là vì khi cục máu đông hình thành trong tĩnh mạch, máu không thể trở lại tim và áp lực làm cho dịch thoát ra ở Đổi màu daKhi dòng chảy của máu bị tắc lại trong các tĩnh mạch, da trên vùng đó có thể bắt đầu bị thay đổi màu sắc, như vết bầm tím. Có thể thấy các sắc thái của màu xanh, tím hoặc thậm chí là màu đỏ. Nếu da bị đổi màu kèm theo ngứa hoặc nóng khi sờ, thì bạn rất nên đi khám bác Khó thởDo lưu thông máu bị ảnh hưởng, nồng độ oxy có thể bắt đầu giảm. Hệ quả là bạn có thể cảm thấy nhịp tim tăng, ho khan và khó có thể là dấu hiệu cho thấy cục máu đông đã di chuyển đến phổi, đặc biệt là khi kèm theo chóng mặt. Hãy gọi cấp cứu và tìm kiếm sự chăm sóc y tế càng sớm càng tốt trong những trường hợp như Đau ở một chân hoặc tayLoại đau này có thể xảy ra đơn thuần hoặc kèm theo dấu hiệu đổi màu da và sưng. Đau do huyết khối có thể dễ dàng bị nhầm lẫn với chuột rút hoặc căng cơ, đó là lý do tại sao vấn đề thường không được chẩn đoán và đặc biệt nguy Đau dữ dội ở ngựcKhi cục máu đông di chuyển đến phổi, nó có thể gây thuyên tắc phổi và gây các triệu chứng tương tự như cơn đau BS. Thomas Maldonado từ Trung tâm Y tế Langone NYU, cơn đau âm ỉ cảm giác ở giữa ngực nhưng lan ra các vùng xung quanh nhiều khả năng là cơn đau tim. Còn thuyên tắc phổi có thể cảm thấy giống như một cơn đau chói tăng lên mỗi khi hít thở. Khi cục máu đông di chuyển đến phổi, nó có thể gây thuyên tắc phổi và gây các triệu chứng tương tự như cơn đau tim 5. Kẻ thù của bệnh nhân tim mạch Trong điều kiện bình thường, huyết khối hình thành thường nhỏ và thời gian tồn tại ngắn, các cục máu đông này sẽ được dọn dẹp sạch sẽ bởi chất tiêu sợi huyết như plasmin. Nó có tác dụng cầm máu khi bị chảy máu do tổn thương đứt nhiên, khi quá trình này xảy ra trong lòng mạch mà không phải do đứt rách thì nó được gọi là huyết khối bệnh lý và gây hại cho cơ thể, tiềm ẩn nguy cơ tử vong bất cứ lúc nào. Sự hình thành huyết khối bệnh lý là hậu quả tác động qua lại của 3 yếu tố sự thay đổi huyết động, tính toàn vẹn của nội mạch và sự tăng tiểu cầu cùng các protein đông cục máu đông hình thành không đúng lúc đúng chỗ trong lòng mạch có thể sẽ dừng lại ở 1 vị trí, lớn dần lên gây tắc mạch hoặc di chuyển đến bất cứ nơi nào theo dòng chảy của máu, tới mạch máu có đường kính nhỏ hơn kích thước của nó sẽ gây nghẽn mạch, thật sự rất nguy hiểm khi nó di chuyển tới mạch máu não gây đột quỵ não, tới tim gây đột quỵ tim, và có thể cướp đi tính mạng của người bệnh bất cứ lúc nào mà không hề báo người bệnh tim mạch, nguy cơ hình thành huyết khối là rất khó tránh khỏi. Chính vì vậy, mới nói rằng huyết khối là kẻ thù của bệnh nhân tim mạch. Để đặt lịch khám tại viện, Quý khách vui lòng bấm số HOTLINE hoặc đặt lịch trực tiếp TẠI ĐÂY. Tải và đặt lịch khám tự động trên ứng dụng MyVinmec để quản lý, theo dõi lịch và đặt hẹn mọi lúc mọi nơi ngay trên ứng dụng. XEM THÊM Thay khớp háng nhân tạo bao lâu thì đi được? Lưu ý khi dùng các thuốc bôi giãn tĩnh mạch Tìm hiểu về huyết khối tĩnh mạch nội sọ
Bài viết được tư vấn chuyên môn bởi Thạc sĩ, Bác sĩ Phạm Văn Hùng - Khoa Khám bệnh & Nội khoa - Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Đà Nẵng Huyết khối tĩnh mạch sâu là một trong những vấn đề thường gặp ngày nay với tỷ lệ tử vong cao. Biến chứng nguy hiểm nhất của huyết khối tĩnh mạch sâu là thuyên tắc phổi tắc mạch phổi là nguyên nhân gây tử vong ở những người có huyết khối tĩnh mạch sâu. Huyết khối tĩnh mạch sâu thường gặp nhất ở các tĩnh mạch sâu trong chân. Hệ thống tĩnh mạch có nhiệm vụ đưa máu sau khi trao đổi oxy từ các cơ quan về tim. Có 3 loại tĩnh mạch bao gồm tĩnh mạch nông, tĩnh mạch sâu, và các tĩnh mạch xuyên đưa máu từ tĩnh mạch nông đổ về tĩnh mạch sâu. Cấu tạo tĩnh mạch có các van một chiều cho phép máu di chuyển theo một hướng nhất khối tĩnh mạch sâu là hiện tượng hình thành cục máu đông bên trong lòng tĩnh mạch, huyết khối tĩnh mạch có thể xảy ra ở bất kỳ tĩnh mạch nào trong cơ thể, nhưng thường gặp nhất là huyết khối tĩnh mạch chi dưới. 2. Nguyên nhân và các yếu tố thuận lợi gây bệnh huyết khối tĩnh mạch sâu Khi hình thành huyết khối tĩnh mạch có 3 yếu tố chính gây ra bao gồm ứ trệ tuần hoàn, tăng đông máu và tổn thương nội mạc tĩnh mạch. Tất cả nguyên nhân dẫn đến 3 yếu tố trên gây ra huyết khối tĩnh mạch Những nguyên nhân gây ra huyết khối tĩnh mạch sâuPhẫu thuật chỉnh hình do gãy xương, phẫu thuật ngực, bụng...Bệnh lý ác tính ung thư tụy, phổi, buồng trứng, tinh hoàn, tiết niệu, vú, dạ dày...Bệnh ác tính đi kèm với sự gia tăng tình trạng tăng đông thương gãy xương đùi, gãy đốt sống...Bất động kéo dài hình thành huyết khối do ứ trệ tuần hoànRối loạn đông máu làm tăng đông máu bẩm sinh. Mắc bệnh suy tĩnh mạch. Mắc bệnh suy tĩnh mạch có thể là nguyên nhân gây huyết khối tĩnh mạch sâu Những yếu tố nguy cơMang thai do cản trở lưu lượng máu về tim, gây ứ trệ tuần hoàn, tình trạng tăng trị thay thế bằng hormon estrogen hay dùng kéo dài thuốc ngừa thai là nguyên nhân thường gặp ở những phụ nữ trẻ bị huyết khối tĩnh mạchNgười béo phì, có tiền sử nhồi máu cơ tim, đột quỵ, suy tim ứ huyết tăng nguy cơ mắc bệnh huyết khối tĩnh sử bị huyết khối tĩnh mạch sâuNgười hút thuốc lá nhiều, người ít vận động thường xuyên ngồi một tác bệnh có xu hướng tăng theo tuổi. 3. Triệu chứng huyết khối tĩnh mạch sâu Đa số các trường hợp huyết khối tĩnh mạch sâu không biểu hiện triệu chứng. Tuy nhiên có thể có các triệu chứng cơ năng sauĐau có thể gặp ở những người huyết khối tĩnh mạch sâu, mức độ đau nhẹ hoặc đau dữ dội, đau tăng khi đi lạiThay đổi màu da vùng da bị huyết khối tĩnh mạch có xu hướng chuyển thành màu xanh đen hoặc một màu bất chân, cảm giác nặng nề, có thể so sánh thấy sự khác biệt giữa hai bên chân Sưng chân, cảm giác nặng nề, có thể so sánh thấy sự khác biệt giữa hai bên chân Người bệnh có thể xuất hiện những cơn sốt thường xuyên không rõ nguyên nhânCảm giác nóng da vùng da bị huyết khối thường nóng hơn so với các vùng thể thấy giãn tĩnh mạch hiện khi có các biến chứng bao gồm Khó thở không rõ nguyên nhân, ho nhiều đôi khi ho ra máu, đau ngực... là những biểu hiện khi huyết khối tĩnh mạch sâu gây biến chứng thuyên tắc phổi. Khi có các triệu chứng này cần đến bệnh viện ngay để được điều trị kịp thời. 4. Biến chứng huyết khối tĩnh mạch sâu Biến chứng nguy hiểm nhất là thuyên tắc phổi, huyết khối tĩnh mạch theo dòng máu tĩnh mạch đổ về tâm nhĩ phải, rồi đổ xuống tâm thất phải, tâm thất phải bóp tống cục máu đông lên phổi, do hệ thống mạch máu tại phổi nhỏ nên cục máu đông không di chuyển được gây tắc mạch phổi. Gây loét da vùng dưới vị trí tĩnh mạch bị huyết chân, phù nề chân kéo dàiHuyết khối tĩnh mạch sâu có thể gặp nhiều đối tượng khác nhau tuy nhiên thường tăng theo tuổi. Bệnh có thể gây ra biến chứng nguy hiểm đến tính mạng người bệnh nên khi có bất cứ triệu chứng cảnh báo hoặc người nằm trong đối tượng nguy cơ cao mắc bệnh nên đi khám để được điều trị sớm mang lại hiệu quả điều trị cao. XEM THÊM Bệnh lý thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch Giải phẫu mạch máu chi dưới Hội chứng tăng đông máu ở phụ nữ có thai
Bài viết được tham vấn chuyên môn cùng Bác sĩ Nguyễn Văn Dương - Bác sĩ Tim mạch can thiệp - Trung tâm Tim mạch - Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Central Park. Huyết khối tĩnh mạch sâu là bệnh lý thường gặp ở các bệnh nhân nặng, sau phẫu thuật lớn hoặc bất động nhiều ngày, có thể gây triệu chứng tại chỗ hoặc di chuyển đến phổi gây thuyên tắc phổi. Do đó, cần dự phòng huyết khối tĩnh mạch sâu chi dưới ở những người có yếu tố nguy cơ. Huyết khối tĩnh mạch sâu là tình trạng cục máu đông hình thành ở sâu trong tĩnh mạch, thường là ở chân. Nếu huyết khối tĩnh mạch sâu hình thành ở chi dưới gọi là huyết khối tĩnh mạch sâu chi dưới. Huyết khối có thể làm tắc nghẽn một phần hoặc hoàn toàn dòng chảy của máu trở về tim và làm hỏng các van một chiều trong tĩnh mạch. Huyết khối cũng có thể vỡ ra và di chuyển đến các cơ quan khác, chẳng hạn như phổi sẽ gây ra thuyên tắc phổi – một bệnh lý có nguy cơ tử vong. 2. Sinh lý bệnh huyết khối tĩnh mạch sâu Bệnh học huyết khối tĩnh mạch sâu chi dưới thường là kết quả của 3 yếu tố cộng gộp, bao gồmSuy giảm hồi lưu trở về của máu tĩnh mạch ví dụ, ở bệnh nhân bất động.Tổn thương hoặc rối loạn chức năng nội mô ví dụ, sau khi gãy chân.Tình trạng tăng đông khối tĩnh mạch sâu chi trên thường là kết quả của tổn thương nội mô do đặt đường truyền tĩnh mạch trung tâm, máy tạo nhịp tim hoặc tiêm chích ma túy. Huyết khối tĩnh mạch sâu chi trên đôi khi xảy ra như một phần của hội chứng tĩnh mạch chủ trên SVC chèn ép hoặc xâm lấn vào tĩnh mạch chủ trên bởi khối u và gây ra các triệu chứng như sưng mặt, giãn tĩnh mạch cổ và đỏ bừng mặt hay do tình trạng tăng đông máu hoặc chèn ép tĩnh mạch dưới đòn. Huyết khối tĩnh mạch sâu bao gồm thrombin, fibrin và các tế bào hồng cầu với tương đối ít tiểu cầu huyết khối đỏ. Nếu không điều trị, huyết khối có thể lan truyền đến đoạn gần hoặc di chuyển đến phổi. 3. Yếu tố nguy cơ hình thành huyết khối tĩnh mạch sâu chi dưới Nhiều yếu tố nguy cơ có thể góp phần vào hình thành huyết khối tĩnh mạch sâu, bao gồmTuổi trên 60. Ung thư là một yếu tố nguy cơ của huyết khối tĩnh mạch sâu, đặc biệt là ở những bệnh nhân lớn tuổi và những bệnh nhân bị huyết khối tái phát. Mối liên quan mạnh nhất đối với các ung thư tế bào biểu mô tiết nhầy như ung thư ruột hoặc ung thư tụy. Hút thuốc lá cả hút thuốc lá chủ động và thụ động.Dùng các tác nhân kích thích thụ thể estrogen ví dụ như tamoxifen, raloxifene, liệu pháp bổ sung tim, hội chứng thận hư, bệnh tăng sinh bệnh lý tăng đông Hội chứng kháng phospholipid, thiếu antithrombin, đột biến yếu tố V Leiden kích hoạt kháng protein C, giảm tiểu cầu do heparin, tăng yếu tố VIII, tăng yếu tố XI, giảm protein C, giảm protein S, bệnh tiểu huyết sắc tố kịch phát về động, chấn thương, béo phì, mang thuật trong vòng 3 tháng. Bệnh học huyết khối tĩnh mạch sâu chi dưới là tình trạng cục máu đông hình thành ở sâu trong tĩnh mạch 4. Các phương pháp dự phòng huyết khối tĩnh mạch sâu chi dưới Dự phòng huyết khối tĩnh mạch sâu chi dưới tốt hơn và an toàn hơn là điều trị khi huyết khối đã hình thành, đặc biệt là ở những bệnh nhân có nguy cơ cao. Do đó, cần đánh giá nguy cơ hình thành huyết khối tĩnh mạch sâu và xem xét điều trị theo các bước 1 Đánh giá nguy cơ hình thành huyết khối tĩnh mạch sâu Bệnh nhân có nguy cơ thấp trải qua cuộc phẫu thuật nhỏ nhưng không có yếu tố nguy cơ huyết khối tĩnh mạch sâu; những người tạm thời không hoạt động trong thời gian dài, như ngồi một chuyến bay kéo dài > 6 giờ nên được khuyến khích đi bộ hoặc di chuyển chân định kỳ, gập mu bàn chân 10 lần / giờ có lẽ là đủ; không cần điều trị y tế. Bệnh nhân có nguy cơ cao hơn bao gồm những người trải qua cuộc phẫu thuật nhỏ nhưng có các yếu tố nguy cơ huyết khối tĩnh mạch sâu; những người trải qua cuộc phẫu thuật lớn, đặc biệt là phẫu thuật chỉnh hình, ngay cả khi không có yếu tố nguy cơ và bệnh nhân nằm liệt giường mắc các bệnh nội khoa nghiêm trọng ví dụ, bệnh nhân thuộc đơn vị chăm sóc tích cực, các bệnh nhân suy tim, bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính, bệnh gan mãn tính, đột quỵ. Những bệnh nhân này cần được điều trị dự phòng. Ngoài ra, có thể dùng thang điểm PADUA đánh giá nguy cơ thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch. Nếu PADUA < 4 điểm là nguy cơ thấp. Nếu PADUA ≥ 4 điểm là nguy cơ cao. Bước 2 Đánh giá chống chỉ định, nguy cơ chảy máu của việc điều trị chống đông theo thang điểm IMPROVEĐánh giá chống chỉ định dựa trên các tình trạng bệnh lý như suy gan, suy thận, xuất huyết não, tiêu hoá, rối loạn đông máu, số lượng tiểu cầu, thuốc kháng đông đang dùng, các thủ thuật phẫu thuật,...Thang điểm IMPROVE nếu có tổng điểm ≥ 7 thì nguy cơ chảy máu cao, hoặc xuất huyết có ý nghĩa lâm 3 Cân nhắc giữa lợi ích và nguy cơ của việc dùng thuốc kháng đông trên từng đối tượng bệnh nhânNếu có chống chỉ định hay điểm nguy cơ xuất huyết cao IMPROVE ≥ 7 thì không dùng kháng đông. Nên lựa chọn phương pháp cơ học để dự không chống chỉ định của thuốc chống đông máu và có điểm nguy cơ xuất huyết IMPROVE < 7 thì dùng thuốc kháng 4 Lựa chọn biện pháp và thời gian dự phòng thích hợpDự phòng huyết khối tĩnh mạch sâu chi dưới có nhiều cách, lựa chọn phụ thuộc vào mức độ nguy cơ của bệnh nhân, loại phẫu thuật, thời gian điều trị dự phòng, chống chỉ định, tác dụng phụ, chi phí, tính dễ sử pháp cơ học ví dụ Thiết bị nén hoặc vớ ép, lưới lọc tĩnh mạchSau khi phẫu thuật, cần nâng cao chân và tránh bất động lâu. Lợi ích của vớ áp lực chưa rõ ràng ở những bệnh nhân phẫu thuật có nguy cơ thấp và những bệnh nhân nội khoa. Tuy nhiên, kết hợp vớ áp lực với các biện pháp phòng ngừa khác có thể tốt hơn so với từng biện pháp riêng bơm hơi áp lực ngắt quãng IPC sử dụng một máy bơm để làm phồng và xẹp theo chu kỳ, cung cấp lực ép bên ngoài cho cẳng chân và đùi. Sau phẫu thuật, IPC có thể được sử dụng thay thế hoặc kết hợp với thuốc chống đông máu. IPC được khuyến cáo cho những bệnh nhân phẫu thuật có nguy cơ chảy máu cao và có chống chỉ định dùng thuốc chống đông máu. IPC có lẽ ngăn ngừa huyết khối ở bắp chân hiệu quả hơn so với huyết khối đoạn gần. IPC chống chỉ định ở một số bệnh nhân béo phì hoặc có bệnh động mạch chi dưới. Đối với những bệnh nhân có nguy cơ bị huyết khối tĩnh mạch sâu chi dưới và nguy cơ chảy máu rất cao ví dụ, sau chấn thương lớn, IPC được khuyến cáo cho đến khi nguy cơ chảy máu giảm và có thể tiêm thuốc chống đông máu. Lưới lọc tĩnh mạch chủ dưới không ngăn chặn huyết khối tĩnh mạch sâu chi dưới hình thành nhưng đôi khi được dùng để ngăn ngừa thuyên tắc phổi ở bệnh nhân có chống chỉ định điều trị chống đông máu hoặc huyết khối tĩnh mạch sâu tái phát mặc dù đã dùng kháng đông đầy đủ. Nên tránh sử dụng lưới lọc tĩnh mạch chủ trừ khi huyết khối đã được xác trị bằng thuốc bao gồm heparin không phân đoạn liều thấp, heparin trọng lượng phân tử thấp, warfarin, fondaparinux, thuốc chống đông máu trực tiếp đường uống.Heparin không phân đoạn liều thấp UFH 5000 đơn vị được tiêm dưới da 2 giờ trước khi phẫu thuật và cứ mỗi 12 giờ một lần. Bệnh nhân nằm liệt giường không trải qua phẫu thuật được tiêm dưới da 5000 đơn vị mỗi 12 giờ cho đến khi các yếu tố nguy cơ được đảo trọng lượng phân tử thấp LMWHs hiệu quả hơn UFH liều thấp trong dự phòng huyết khối tĩnh mạch sâu chi dưới và PE. Enoxaparin 40 mg tiêm dưới da một lần/ ngày, dalteparin 5000 đơn vị tiêm dưới da một lần / ngày và tinzaparin 4500 đơn vị tiêm dưới da một lần/ ngày dường như có hiệu quả như nhau. Fondaparinux 2,5 mg tiêm dưới da mỗi ngày ít nhất có hiệu quả như LMWH ở những bệnh nhân đang phẫu thuật chỉnh hình và có thể hiệu quả hơn LMWH sau phẫu thuật chỉnh sử dụng tỷ lệ chuẩn hóa quốc tế mục tiêu INR là 2,0 đến 3,0, được chứng minh là có hiệu quả trong phẫu thuật chỉnh hình nhưng đang được thay thế dần bởi LMWHs và thuốc chống đông đường uống thế hệ mới vì dễ sử dụng hơn. Thuốc chống đông máu trực tiếp đường uống ví dụ Dabigatran, rivaroxaban, apixaban có hiệu quả và an toàn như LMWH để dự phòng huyết khối tĩnh mạch sâu chi dưới và PE sau phẫu thuật thay khớp háng hoặc đầu gối. Đi bộ là biện pháp dự phòng huyết khối tĩnh mạch sâu chi dưới hiệu quả Tóm lại, cần phải điều trị dự phòng huyết khối tĩnh mạch sâu chi dưới cho những bệnh nhân bị bệnh nặng nằm liệt giường và/ hoặc những người đang trải qua một số thủ thuật phẫu thuật. Vận động sớm, kê cao chân và dùng thuốc chống đông máu là các biện pháp phòng ngừa được khuyến cáo. Những bệnh nhân không thể dùng thuốc chống đông máu có thể dùng máy bơm hơi áp lực ngắt quãng, vớ áp lực hoặc cả hai. Khi điều trị dự phòng huyết khối tĩnh mạch sâu chi dưới, luôn có nguy cơ chảy máu trong quá trình sử dụng thuốc chống đông máu. Do đó, cần cân nhắc kỹ lưỡng về lợi ích và nguy cơ giữa các biện pháp trên từng đối tượng bệnh nhân cụ theo dõi trang web thường xuyên để cập nhật nhiều thông tin hữu ích khác. Để đặt lịch khám tại viện, Quý khách vui lòng bấm số HOTLINE hoặc đặt lịch trực tiếp TẠI ĐÂY. Tải và đặt lịch khám tự động trên ứng dụng MyVinmec để quản lý, theo dõi lịch và đặt hẹn mọi lúc mọi nơi ngay trên ứng dụng. Bài viết tham khảo XEM THÊM Chẩn đoán và điều trị huyết khối tĩnh mạch sâu chi dưới Dấu hiệu ung thư phổi di căn xương - tiên lượng điều trị Yếu tố thúc đẩy cơn suy tim cấp nặng lên nhanh chóng Dịch vụ từ Vinmec
huyết khối tĩnh mạch sâu chi dưới vnha